Bài về xuân

By Huynh Minh Tam

 

                          UỐNG TRÀ NGÀY XUÂN

Nghệ thuật uống trà là thưởng thức mê ly đột ngột lúc lâm ly mê hoặc lúc cô đơn ngút ngàn kí ức thời gian chợt xuân về tết đến. Ngồi quạnh hiu với ta cùng ta giữa ta nhâm nhi nhu mì cái vị đắng đót hăng hăng cay nồng bèo bọt đời người bỗng chốc hứng khởi với hư vô tịch mịch. Từng giọt thiên thu rơi rụng trong tấc dạ ngổn ngang thơ ca trời đất. Mặc cho hoa nở bên thềm nắng rơi đầu ngõ tấp nập người xe lao xao phố hội. Mặc cho "nghệ thuật thưởng thức trà được coi là một trong những sinh hoạt quốc hồn quốc tuý của người Trung Hoa". Mặc cho " việc uống trà được nâng lên thành nghi lễ  như một tôn giáo gọi là trà đạo. Trà đạo là một trong những nét văn hoá độc đáo của người Nhật là nghệ thuật trong việc tu dưỡng tinh thần". Biết vậy ừ vậy !

Xin ngó lại bàn chân em bước.Vì em đi vào lúc gió đương bay.Năm ngón nhỏ như sương đầm lá ướt.Em đưa tay anh vói bắt chừng này.Ngồi kể lại chuyện ngày xưa cũ kỹ.Em không nghe vì anh cũng không nghe.Hồn hoa phấn xông hương sầu dị dị.Tóc vàng tơ tỉ mỉ ngón tay đè.Vì ngọc trắng cát lầm thu xiêu lệch.Gió băng trời xin thổi bụi bay theo.Ngàn xuân rộng vô ngần trong bóng nguyệt.Đầu xanh em tư lự suối thông đèo.(Màu xuân Bùi Giáng). Thực ra đương uống trà đột ngột hân hoan tê dại mà ngó nghiêng như thi sĩ thì tôi không thích lắm (Thực ra là buồn lắm vậy !).Nhưng mơ mộng viễn vông bất chợt ồn ào tâm tưởng kiểu Hồn hoa phấn xông hương sầu dị dị.Tóc vàng tơ tỉ mỉ ngón tay đè  thì có vẻ cũng rộng đường thưởng ngoạn cái mê ly.

Bạn tôi liệt kê các loại trà cực kì quí hiếm thơm ngon tưởng chừng như không còn gì thơm ngon quí hiếm cực kì như trà. Nào là Trảm mã trà Bạch mao hầu trà Trùng điệp trà trà xanh trà Ô Long trà Thiết Quan Âm trà đen... tất thảy cũng chỉ là để " thưởng thức cái thú tao nhã thanh khiết và thư giãn tâm hồn". Nhưng biết thưởng thức thế nào trước ê hề bề bộn ám chướng khí trời mưa bay bụi nhảy ?

Kỷ niệm tóc xanh tình yêu lá cỏ.Em thì mây trắng nắng vàng thu.Hoa thơm vẫn nở trên đỉnh núi.Vầng trăng vẫn tàn dưới vòm khuya.Tôi thì lóc cóc bên khe suối.Lọc cọc nào mây mặc áo trời.Em đi một chặng rồi hai chặng.Một chặng em về hai chặng em đi.Xuân trước nhớ em hoa cúc trắng. Xuân này cúc trắng lại nhớ em.Mây trắng đầu non mây trắng nõn.Nhớ em trắng nõn đường cỏ xưa.Đường cỏ trắng thơm hương chúm chím.Tình yêu lá rụng bữa sang mùa.

Chốt lại rằng nghệ thuật uống trà là uống uyên nguyên miên viễn cái bất sinh bất diệt là uống cái mùa xuân đang cụ cựa quầy quậy đang ngún ngẩy đu đưa. Thiết nghĩ uống cả cái hồn ta tâm ta giao hoà với nắng vàng hoa cỏ từng giọt từng giọt đột ngột bức bách mê ly. Uống thế hay chăng? Uống thế dở chăng? Uống thế buồn chăng? Uống thế vui chăng? Uống thế say chăng? Uống thế tình chăng? Biết vậy ừ vậy !

             Bài của Huỳnh Minh Tâm

      GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam.

                        

                     CHƠI HOA NGÀY XUÂN

Thú chơi hoa là thu nhiếp cái vô cùng vũ trụ vào trong cánh hoa bé bỏng vô thường hữu hạn. Hữu hạn nhỏ bé sớm nở tối tàn của loài hoa kia mà dung chứa cái vô cùng tận của cuộc sống nhân sinh của vũ trụ bao la miên viễn. Vậy nên thú chơi hoa trồng hoa ngắm hoa tưới nước cho hoa ôm hoa mơ mộng hoa là thú bàng hoàng ngẩn ngơ tao nhã trên cả tao nhã; mê ly sung sướng trên cả hạnh phúc mê ly; nhiệt huyết phong lưu trên cả phong lưu bạc tiền vung vải. Ô hô thế mới biết cái vô cùng tận mơ mộng hoang tưởng đời con người ta. Ô hô thế mới hay người đời còn biết bao chuyện để mà mộng mơ sum vầy để mà viết lách cô đơn.

Bạn bảo: ‘thú chơi hoa đặc biệt hoa mai ngày xuân là bộ môn nghệ thuật của sự đam mê và lòng nhẫn nại như non bộ tiểu cảnh thư pháp...". Bạn bảo: "mai hoa nhất là cây mai cổ thụ nhiều tuổi từ dáng thế màu sắc và cả các đặc tính sinh học của nó được cho là chứa đựng nhiều bí ẩn biểu hiện những ý nghĩa triết lý nhân sinh sâu sắc". Tôi vỗ hai tay ngàn ngày xuân thấy những cánh hoa mỉm cười sung sướng. Thế mới biết cái lung linh bất tuyệt của hoa đang "ám chướng mân mê" hồn người. Thế mới hay cuộc sống phồn hoa phức tạp khôn lường muôn yêu nghìn vẻ. Thế mới nghĩ ai ai cũng chiêm ngưỡng bái vọng một cánh hoa dịu dàng mơ tưởng nào đó. Bởi chăng hoa là biểu tượng của tình yêu tri ngộ tri âm tri ân tri cái hão huyền không dò ra đáy sâu phập phù dương thế. Hoa là người vợ thứ hai vỗ về mơn trớn là tình nhân hút mật phô bày thứ ngải đắng huyền diệu cam go.

 "Bàn chân em đẹp hãy dừng đây.Suối chảy bờ quanh mượt cỏ dày.Em có bằng lòng về ở lại.Bêm màu cây lá mộng xưa sau.Nhìn về sim chín ở đồi xa.Nhìn xuống cồn hoang dãi bóng tà.Trang hồng kim hải ra hoa nhỉ.Trổ bông mùa phượng cũ hồ phai.Hương ngân với với hai tay với.Mộng hồn suối lạnh đến mùa ngân"

Năm trước em (hoa) đứng bờ nhật nguyệt.Năm nay em (hoa) bước thuyền mơ. Năm sau em (hoa) nhẹ nâng cánh bướm. Năm sau sau nữa em (hoa) vòm trời xanh.

Hoa là vô thường êm ái.Vậy thú chơi hoa cũng vô thường êm ái ? Hoa là ung dung hốt nhiên cười khóc nở tàn. Vậy thú chơi hoa là cười khóc hốt nhiên ?

Chợt nhắm mắt lại ba ngày xuân trôi qua.Hoa rụng. Hoa rụng. "Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận.Đình tiền tạc dạ nhất chi mai."

         bài viết của Huỳnh Minh Tâm

  GV trường  THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam.

 

                  ĐẦU NĂM

Khúc I

Anh đứng với em

                           hai mươi năm

                                                    

cây ổi già hoa rụng đầu ao

bông cải vàng thu mắt xuân hồ hởi

anh đứng với em

                         tóc ngắn ngày ngắn

vô tâm trường cửu nhánh mai vàng

con chào mào về khua truông vô tận

Khúc II

Cây cau mẹ trồng qua đông rét giá

hương bưởi cuối vườn hồn mẹ bóng sương

hai mươi năm ngang trời tiếng dế

rả rích lích chích bờ cỏ non

Khúc III

Thơm một đời cực nhọc

cười một đời ưu tư

khóc một đời thấu cảm

nghìn năm cũ trời bên đất

nắng ấm chờ cây biếc

một đàn trâu ngủ với tóc em.

          Huỳnh Minh Tâm

GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam.

tamdailoc.vnweblogs.com

NGÔI NHÀ MÙA XUÂN

          Ngôi nhà đơn độc hay mùa xuân vĩnh cửu

Dưới bóng xoài xanh biếc

một ngôi nhà nhỏ hân hoan

nắng ấm sau đông dài rét giá

gió mơn mởn kề đôi má

bầy chim năm trước lại bay về

nhưng đâu những gương mặt thân quen ?

giàn tre nát hoa tràn mái giậu

con đường rêu bụi kín dấu chân

tiếng côn trùng âm i sau cửa

mơ hồ sương khói bếp lửa nào

ai vẽ bức tranh ai mặc niệm

ai mời trăng sóng sánh đêm xuân

cây mận trắng vài bông đầu vụ

vài đôi tay mơ hái quả non

bỗng rực sáng dưới nếp tranh cũ

một đôi chồn đội nắng bay lên.

Huỳnh Minh Tâm

GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam.

tamdailoc.vnweblogs.com


 

  BA NGÀY XUÂN    

Chỉ ba ngày xuân thắm

để anh được yêu em

rủ nhau về hoa cỏ

xanh ngút mắt thời gian

em nấu ăn dịu dàng

mùng một anh mở cửa

hoa bưởi nhạc hương trầm

cánh lá động tay gió

mùng hai em ra vườn

thơm ngò búp cải xanh

anh đứng bên cánh cửa

tóc mềm chim thỏ thẻ

anh ra sông cùng em

mùng ba dòng nước trong

anh múc một thau nước

một dòng nước trong xanh

đã hai chục năm rồi

chỉ ba ngày xuân thắm

để anh ở bên em

trái xoài trong thau nước.

      Huỳnh Minh Tâm

GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam

RA ĐI MÙA XUÂN

mùa xuân mấy bận đi về

một đi trong mộng hai về trong mơ

gió mây phủ ngập đôi bờ

núi mong đầu núi sông chờ cuối sông

ra đi em có buồn không ?

đôi chân rã rượi má hồng phôi pha

giũ rồi áo gấm tay hoa

lạnh rồi bến cũ đò ca sum vầy

trời xanh không chén mà say

núi cao không vẽ mà bày cuộc chơi

đi là cát bụi tăm hơi

về là biêng biếc nước trôi chân cầu.

      Huỳnh Minh Tâm

                 


More...

Bình thơ

By Huynh Minh Tam

 

                   THƠ QUẢNG NAM MƯỜI NĂM 1997-2007

 Vài cảm nhận nhân đọc tập thơ: Thơ Quảng Nam mười năm 1997-2007

 Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Nam 3/2007.

    Dường như những dự định hội họp gửi bản thảo của an hem làm thơ là hội viên Hội Văn học nghệ thuật Quảng Nam và những chuyện "trầm luân" của tập thơ đã qua. Cuối cùng tập thơ : "Thơ Quảng Nam mười năm 1997-2007" cũng ra mắt bạn đọc.

    Như "lời nói đầu" của tập thơ : "kỷ niệm mười năm tái lập tỉnh Quảng Nam Hội Văn học-nghệ thuật tỉnh Quảng Nam trân trọng giới thiệu 38 gương mặt thơ-là hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh". " Trong mười năm ấy thơ ca Quảng Nam đã đồng hành với những mất mát đau thương của chiến tranh những trăn trở buồn vui trong cuộc sống mới của quê nhà...Tất cả đều day dứt lấp lánh đằm thắm được những người làm thơ ở đất quảng giãi bày nỗi niềm trong từng tác phẩm của mình. Đây cũng chính là mạch nguồn của truyền thống Văn học đất Quảng được các thế hệ làm thơ hôm nay gìn giữ và phát huy".

   Nếu xét về mặt thời gian 10 năm với một tập thơ của một vùng đất "luôn sát cánh bên nhau chung lòng chung sức hối hả và quyết liệt NĂNG ĐỘNG và SÁNG TẠO  xáp vào sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới giàu amnhj" thì tập thơ như vậy là mỏng và khiêm tốn. Nhưng khi đọc tập thơ ấy dẫu sao cũng đáng ghi nhận và trân trọngn gửi gắm vào long độc giả có thể ở sự mới mẻ sự chân thật và qua thử thách thời gian của nhiều tác phẩm.

     Cảm nhận đầu tiên của tôi khi đọc tập thơ là sự chọn lựa và quyết đoán của ban tuyển chọn kỹ tốt có cân nhắc. Tập thơ đa giọng điệu đa thể tài chuyển tải trao gửi được tâm trạng những cảm xúc và phong cách của từng cây bút riêng biệt. Âu đó cũng là uưu điểm không dễ có của những tập sách in chung nhiều tác giả.

    Ở bài viết ngắn này tôi không có tham vọng đánh giá toàn bộ các tác giả. Tôi chỉ có một vài nhận xét nào đó có thể rất chủ quan về một vài tác phẩm hoặc một vài tác giả có những giọng điệu "đạc trưng" nào đó những "cốt cách" văn chương nào đó. Nếu có sơ suất nào thành thật xin lỗi.

   Trương Vũ Thiên An là tác giả của 3 bài thơ : "Cơn giông" " Mẹ và cơn mưa" "Ngọc xưa". Thơ anh là khúc ca thánh thót của loài chim sơn ca chất thơ truyền thống ngôn ngữ chỉn chu giàu hình ảnh : "Là hạt nhưng không là cát bụi/ trang kinh xưa đánh tréo chỗ tôi ngồi/ em với long tôi lễ hội/ khách mời trắng cả trùng khơi/ là hạt cát-em bước ra từ ngọc / đêm ban ơn lót biển em về/ những chiều bể khơi nổi lửa/ dịu dàng tôi khép vỏ trai xưa" (Ngọc xưa). Đôi lúc thơ anh tắt nghẹn giữa điệu ca dao quê nhà bởi tâm hồn mỏng manh run rẩy trước nỗi đau của mẹ của em của tình yêu đất đai và số phận. Thơ anh giàu nhạc điệu và thoang thoảng mùi hoa hồng tinh khiết. Ở nhà thơ Nguyễn Hàn Chung là nỗi ám ảnh về con chữ về sự cách điệu hàm ẩn của hình ảnh về những giấc mộng mị xô bồ nỗi trầm luân của kiếp nhân sinh. "Cuộc hôn phối bắt đầu/ có vị gừng cay muối mặn/  của vò xé âm ba phụng hiến/ của chiếc lá nửa vàng cố giữ nửa kia xan/ lao lực cả đời mà vẫn trống không/ nhưng biết em đang đứng lặng/ là thấy dào lên cơn song/ nguội ngầm từng trải rất thơ ngây". "Trước xuân". Thơ Phùng Tấn Đông luôn thách đố và ám ảnh người đọc ở phần thi pháp. Cái mới lạ của hình ảnh ngôn ngữ đan xen với "ý thức triết học" về một "cái tôi lẻ loi" của cây bút sung mãn nội lực nội tại đang dồn nén : "Rồi cũng cố mà xanh lá đang rơi xuống cõi mơ ngày/ cột giấc nhớ vào những lùm dứa dại/ chảy lạnh tê long khe cát trắng/ mơn mơn gió nồm lên mắt lên môi/ chiếc thúng chai ném ra đầu song/ đèn thắp lên là bè bạn chân trời" ( Những ý nghĩ rời trong một lúc). Ở một thái cực khác thơ Nguyễn Tấn Sĩ tràn trề xúc cảm. Một ngọn bút hừng hực khí chất của người lính vì quá độ chăng nên luôn giễu cợt và mang tính triết lý nhân sinh về các số phận về những hư danh của cuộc đời : "Đêm Thuý Kiều em bày vẽ cuộc vui/ anh bày vẽ cuộc buồn ly rượu đắng/ nếu cầm được linh hồn đi phơi nắng/ anh chẳng còn vui em chắc chẳng còn buồn/ hát đi em Kim trỗi giọng thính phòng/ Mã rối rít dăm bài nhạc sớm/ bác Nguyễn Du chạnh lòng tắt nến/ quờ quạng đôi tay anh bắt gặp tay mình"( Đêm Thuý Kiều ). Thơ của tác giả Huỳnh Minh Tâm là nỗi thường trực vui buồn cuộc đời của cái đẹp long lanh ngấn lệ đứng trước thời gian vô thường khắc nghiệt. Thơ anh ca ngợi những vẻ đẹp vĩnh cửu trong giây phút hiện tiền : " Đôi khi chúng ta quá xa những người thân yêu/ quá xa những đám mây vàng chiều chiều bay về khu vườn mẹ/ quá xa giọng ca đám lá mục tan rữa/ hoa huệ vẫn trong trẻo ngay cả lúc rũ xuống/ mẹ tôi chớm nghĩ về sự chết/ tôi nghĩ về trường tồn bất khả/ tiếng chuông thánh thót bên kia ngọn núi quê nhà ".( Hoa huệ và thời gian ).

   Những nhà thơ nữ đã đóng góp nên sự thành công của tập thơ cũng khá đông:            Lê Thị kiều Chinh Lê Thi Lê Thi Điểm Đỗ Thị Kết...Thơ chị Mai Thanh Vinh đằm thắm là tiếng sóng vỗ bờ một năm dài là khát vọng bền bỉ treo trên sự tơ trời mỏng mảnh: " Bỏ lại bờ ao-em chìm trong ảo ảnh/ chùng chình con nước phía người đi/ tiếng gà gáy vọng vầng trăng  mờ sáng/ quang gánh nhọc nhằn gác lại góc hoàng hôn/ thôi đành vậy bao giờ em trở lại/ khi ban mai le lói ánh mặt trời/ vẫn hương lúa làng quê thơm lựng gió/ đêm trăng về ngả nón hứng mùa sang "( Bao giờ em trở lại )         


 

                                   CẢM THỨC QUÊ NHÀ

(Đọc tập thơ Khúc lưu vong bầy chim sẻ của Phụng Lam NXB Đà Nẵng 2006)

       Khúc lưu vong bầy chim sẻ  là khúc tưởng niệm dời xa cố quận-chữ dùng của cố thi sĩ Bùi Giáng; với tôi: cảm thức quê nhà miên viễn: Ta về xanh gọi khúc mùa/ tiếng liềm xục xạc nhặt khua tay người/ chim đồng lội mót thóc rơi/ dáng em gánh lúa kéo cời vai sa.(Khúc mùa).

    

       Sinh năm 1938 ở làng Lam Phụng Đại Hồng Đại Lộc 30 năm cầm bút nghiệp thơ dằng dặt niềm vui nỗi buồn; đến tuổi chiều xế nhà thơ Phụng Lam mới ấn hành tập thơ đầu tay này. Nói khiêm tốn như nhà thơ là tặng vật cho quê hương gia đình và bạn đọc. Nói thì vậy nhưng đâu giản dị đơn sơ vậy?  Ta cứ bị đời xô nghiêng nhiều phía/ may có câu thơ giữ thế thăng bằng. (Thanh thản)-Một "tuyên ngôn cổ điển" thơ có sức ám ảnh kỳ lạ; thông điệp về sức mạnh thẩm mỹ của nghệ thuật nói chung thi ca nói riêng ?

       Tập thơ không chia nội dung đề tài thành những phần rõ rệt mà đan xen vào nhau. Nổi bật đầy đặn hơn cả là bàng bạc nỗi thổn thức quê nhà tuổi thơ trong tâm tưởng; những hình ảnh cũ xưa khăn nhung mỏ quạ yếm lụa sồi được tác giả diễn đạt sắp đặt với một thi pháp ngôn ngữ tươi mới phù hợp cảm xúc mỹ cảm hiện thực: Tiếng trưa ve rót xuống làng em/ chim dộc ru con tay mềm võng cỏ/ chim cu há mồm ngậm chùm nắng đỏ/ bưng tiếng trưa làng chờ gió em giê. (Tiếng trưa quê).  Bất chợt tôi cảm nhận một chút đồng điệu nào đó giữa nhà thơ Phụng Lam và cây bút tản văn khúc chiết đầy cảm hứng của Quảng Nam là Lam Hà.Với tần suất ám ảnh làng xưa các hoạt động văn hóa của dân tộc đôi khi trở thành những biểu tượng trù phú tươi đỏ trong văn thơ hai ông.Thiết nghĩ có lý khi nhà thơ Đông Trình giới thiệu: "Thơ  Phụng Lam treo đầy mặt nạ của quá khứ. Anh là người cơ hồ đi ngược chiều với dòng chảy thời gian. Mười năm trước có thể xa hơn thế nữa tôi đã gặp anh với những bài thơ đầy tiếc nuối ngậm ngùi: Tay nào em hái hoa yêu/ Tay nào em khỏa nắng chều để quên?.Người ta đã quên thì anh tìm.Tìm xưa..."

    Sức nặng tập thơ còn là tiếng nói tâm hồn ngân vang chân thực trong trẻo; và điều đó đã truyền cảm tinh tế tự nhiên vào tâm hồn tri âm độc giả gợi mở về một cái đẹp bền bỉ của những câu ca dao lung linh huyền ảo: Nằm lăn đồng cỏ thả hồn/lời chim vịt rót cay con mắt chiều/cảm ơn rơm rạ rất nhiều/biết nuôi hạt thóc cánh diều giấc mơ. (Hoa vàng rạ rơm).Nếu nói lục bát của Phụng Lam đã đạt độ chín đỏ vàng mười thì hơi quá nhưng rất có ấn tượng về cách ôm vần chặt cách gieo chữ ngắt câu nhịp điệu mới ghi nhận có những thành công  nhất định.

      Nhưng thật lạ đọc kỹ tập thơ tôi có cảm nhận những bài "đinh" trong tập những bài "để đời" được giải thưởng tạp chí Sông Hương là những bài viết về nỗi niềm suy tư lẽ đời phận người công danh thị phi văn hóa nhưKhúc lưu vong bầy chim sẻ Thấu cảm Lửa chi sơ nhớ Phùng Quán...Tựu trung những bài thơ  ấy có một cách nhìn cách viết xê dịch ngôn ngữ tung tẩy hình tượng kín đáo gợi mở cho bạn đọc nhiều hướng tiếp cận vấn đề thấu cảm lẽ "sắc không" của trời đất và ý niệm tương tự "tiềm thức kết hợp suy tưởng tạo nên thi ca" (F.Schiler):

                   Cụ Nguyễn Du luyện chữ tâm

                   Thành ngọc

                   thả vào bể dâu

                   nàng Kiều mười lăm năm

                   Nổi

                   Chìm

                   Cười

                   Khóc

                   Ngọc vẫn long lanh sông Tiền Đường.

                                                (Thấu cảm)

          Có lẽ có rất nhiều điều cần bàn những cái hay nào đó còn ẩn sâu trong các câu chữ cần đọc nhiều lần để giải mã. Tuy vậy với những cảm hứng chủ đạo của tập thơ đã hiển lộ với độ dày của tập thơ dường như tác giả muốn tổng kết một quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc cần mẫn miệt mài thật đáng trân trọng xiết bao! Nhưng giá như tác giả bớt tham vọng và dễ dãi cắt bỏ đi những bài cũ kỷ non tay sắp đặt hệ thống hơn tư tưởng chủ đề mạnh dạn hơn nữa bước ra khỏi ngôi làng hiện thực đẩy ngôn ngữ "quặn thắt" hơn về phía triết lý nhân sinh cội nguồn thì hy vọng tập thơ mang một chiều kích lớn hơn.Âu đó cũng là một nhận định sai lầm dầy tính chủ quan.Những gì tập thơ thể hiện cũng đã trĩu nặng một ám ảnh nhân sinh một phong cách thơ tươi trẻ khá hấp dẫn.

                                     

                  

         

MÙA ĐÃ THU-

          CÁI ĐẸP MONG MANH TÌNH YÊU MONG MANH                                                

( Đọc tập thơ Mùa đã thu của Phan Chín NXB Văn học 2007)

  

     Biết Phan Chín là nhà báo anh viết báo thật sung mãn.Rồi gặp Phan Chín  là nhà thơ với tập thơ thiếu nhi Quê nhà cô Tấm- giấc mơ trong trẻo hồn nhiên của tuổi thơ hoang dại. Giờ lại đọc tập thơ Mùa đã thu của anh với những rung động mong  manh về cái đẹp và tình yêu những kỷ niệm bóng mây trôi da diết nuối tiếc về mẹ em và đời sống nỗi vui buồn đa đoan trắc ẩn. Và dường như tập thơ là sự hội tụ cảm xúc rung động chân thực của tác giả để bạn đọc nhận diện ra một gương mặt thân quen với  những âm vực trầm buồn :Ném chiếc nắng vàng cuối cùng /thu chuyển sang đông/ mây trắng thế/ bất ngờ mọng nước/ heo may lặng lẽ/ khai mùa. (Sang mùa).

   Thơ của Phan chín là những giấc mơ thường hằng và được nung nấu chưng cất cho cái đẹp phổ quát hoặc là khát vọng của cái đẹp vĩnh hằng trước sự tàn phá cám dỗ của quái vật thời gian. Mùa đã thu không chỉ là nhịp điệu thời gian

cảm nhận và chua xót cho cái biến mất từ từ chậm chạp không thể thấy không thể núi kéo mà còn chứa đựng cuộc sống và hy vọng cuộc sống và những diễn tiến có thực của nó những hệ luỵ của nó những cuộc gặp gỡ và ly biệt   những hẹn hò và luyến nhớ những giấc mơ và sự thật: Có người con gái/ về thăm vườn xưa/ ngắt bông hoa ấy/ bỗng xôn xao mùa/ tôi nằm mộng mị/ trong vòng tay xuân/ mơ thành hoa dại/ nép bên chân tường.(Chút xuân riêng). Những câu thơ chuyện tình dễ thương ấy nằm mãi kín hút trong lòng thi nhân tôi tin vậy.

  Đọc thơ Phan Chín ta có cảm giác tâm hồn nhà thơ trẻ như một ngọn cỏ mùa xuân mơm mởm tươi rói mỏng manh dễ bị lay động cuốn hút bởi những ngọn gió vô biên của đời sống. Bởi vậy mà hơi thở thơ ca của anh luôn luôn bàng hoàng nhẹ nhàng âu lo thắc thỏm luôn luôn ở bên mé của vực thẳm và núi cao

Ở đó tiếng nói bắt đầu run rẩy bắt đầu cô đơn bắt đầu chìm khuất :Đã chìm khuất những phố phường bụi bặm/ và một người con gái đã rời xa/ bỏ phố thị về quê ăn tết/ chỉ một nhành hoa/ ấm một lời tạm biệt/Thị xã bây giờ/ có một kẻ bâng khuâng/ hái chiếc lá giấu vào lòng tay ấm/ bất chợt tiếng chim ngân giữa vòm cây xanh thẳm.(Chút mùa xuân thị xã ).

  Nếu lấy những ý sau :Bài thơ hay làm cho người ta không còn thấy câu thơ chỉ còn cảm thấy tình người. Quên rằng đó là tiếng nói của ai người ta thấy nó như là tiếng ca của lòng mình như là của mình vậy.Thơ là tiếng nói tri âm. Không có tri âm thì cuộc đời nghèo đi biết mấy thì người ta làm sao sống được...của cố thi sĩ Tố Hữu làm thước đo làm chuẩn mực thì"vận" vào thơ của Phan Chín đôi khi ta bắt gặp sự đồng cảm lớn. Thơ của Phan Chín là thơ tình  ngân rung tình mẹ tình em tình quê tình đời tình lãng mạn của sắc xanh. Cảm hứng thơ anh cũng mang màu xanh cái sắc xanh dịu nhẹ dụi êm dịu dàng mềm dụi như bàn tay con gái dễ đi vào lòng người đễ gợi niềm bâng khuâng thương cảm. Ngược lại bởi vậy thơ anh ít mang màu sắc chói gắt ấn tượng sắc đỏ sắc dục sắc phóng túng bạo liệt như một xu hướng thơ hiện đại mà nhiều nhà thơ đang theo đuổi ôm ấp. Thơ anh thỏ thẻ tâm sự: Những cơn gió chạy từ thu sang đông/ sáng nay có dừng trước cửa nhà em báo tin xuân đến?/ anh đã gửi theo chút xanh lộc nõn/ em có cầm lên với biêng biếc tuổi mình?anh ở noi này bốn phía mùa xuân/ với trái tim phập phồng chờ đợi/ mắt bối rối nhìn ra bờ nắng.(Gửi người con gái mùa xuân).

          Phải chăng với những cảm quan riêng với những nhận thức nhất quán xuyên suốt trong công việc trong đời sống mang đậm chất truyền thống chất dân ca xứ Quảng mà tâm hồn đa cảm của anh dễ tri âm với những quê nhà nhịp cầu tre hai trảng cát với cây đa giếng nước sân đình không đề ngày tết :Nào hay biết trên bật thềm năm mới / riêng mẹ ngồi với ngọn gió chiều se với đón chiều:bâng khuâng tôi đón chiều về/ bóng mây lẫn với bóng tre cuối làng/ khói sương gợi nhớ miên man/ đâu đây vẳng một tiếng đàn vu vơ.

          Cái chân thiện của tập thơ cái phần tốt đẹp của tập là nỗi dâu nhân sinh của tác giả đồng hành cùng bạn đọc với nhân tình thế thái với những đối lập nghèo -giàu được- mất vinh quang- hèn mọn. Và tác giả trằn trọc tự vấn đau đớn tư lự phải chăng bởi sức vóc con người có hạn mà sự kiện đời sóng thì vô hạn? Bồi đất bãi này/ xoáy lở bờ kia/ có con sông mơ mình đổi hướng/ chưa xong/ đã gặp bờ kè! (Không đề).

          Tuy vậy đọc cả tập thơ ta có cảm nhận thơ Phan Chín nội dung dàn trãi hiền hoà quá.Thi pháp của anh không mới nếu không muốn nói là " nhiều phần cũ". Câu chữ chưa bứt phá riết róng.Một số ý thơ câu thơ dường như ta đã bắt gặp ở một ai đó viết trước đó quen thuộc lắm. Tứ thơ hay lặp dễ gây nhàm.Hình tượng chưa sắc để tạo ấn tượng găm vào lòng độc giả. Mong rằng đây chỉ là những thiển ý rất chủ quan những ước mong yêu cầu không hợp lý.Nói như Tiến sĩ Văn học Hồ Hải Hà: "Mùa đã thu của Phan Chín như tên gọi tự nó đã là thông điệp về thời gian muốn chia sẻ tâm tình cùng tha nhân trong ý nghĩa tích cực... hoá giải những niềm vui nỗi buồn để chúng lên ngôi cùng niềm tin và hy vọng xanh biếc...Chỉ chừng ấy thôi Mùa đã thu đã đáng để ta yêu quí một hồn thơ trân trọng một tâm tình .Và vì vậy những gì chưa đạt đến hài hoà nghệ thuật ở một số bài mong bạn đọc thông cảm và chờ đợi ở các thi phẩm tiếp theo của Phan Chín". Những ghi nhận của Tiến sĩ thật quí giá và cảm động.Bởi vậy chúng ta có cớ để hy vọng ở anh.

                                   

KHÁT VỌNG CÁI CHẾT

(Đọc tập thơ:Ẩn dụ mưa của Bùi Xuân NXB Hội Nhà văn 2007)

    Khát vọng cái chết là khát vọng thường trực chết đi cái cũ kỹ mòn rũ của thi ca để sáng tạo ca hát sự mới mẻ của ngôn ngữ cái giọng điệu tự do phóng khoáng thanh thản giản dị cái xúc cảm mãnh liệt của lửa...Đó là những cảm nhận ban đầu miên man của tôi khi đọc tập thơ Ẩn dụ mưa của Bùi Xuân với những câu thơ đầy ngẫu hứng diễn cảm sau:Sự ấm áp của lửa cho chúng ta hơi thở nồng nàn/sự giằng xé của lửa khiến chúng ta ngột ngạt khổ đau/sự mãnh liệt của lửa thắp chúng ta tràn trề niềm hy vọng/sự bập bùng của lửa làm thổn thức trái tim ngỡ đôi lần chạm tiếng vỡ pha lê.(Hai ngọn lửa).

  

    So với tập đầu tay:Thơ đề trên chiếc lá rụng 1997-tập thơ mang âm hưởng của ca dao quê mẹ ngôn ngữ trong trẻo lạ thường ý thơ rõ ràng xúc cảm bồng bọt thì tập thơ thứ 2 này của anh có tính triết luận đầy đặn hơn từ ngữ thô nhám hơn gần gũi với tiếng nói của đời sống nỗi đau nhân sinh cũng rộng và quặn thắt hơn.Bài thơ Thế giới là di tích những chế tác chưa hoàn chỉnh  là một thành công lớn của anh ở thể thơ văn xuôi:Anh tự hào về con người song bản thân con người là chế tác chưa hoàn chỉnh. Thử soi mình vào gương và anh sẽ thấy những vết chân chim đang khiến anh già đi. Thử soi vào gương và em sẽ hiểu vì sao phụ nữ lại cần mỹ phẩm đến thế. Sự trang điểm hàm nghĩa tôn vinh cũng đồng nghĩa với sự thật-nhan sắc người đàn bà chưa bao giờ là nhan sắc.Sự toàn vẹn của nhan sắc rất cần đến những thứ phụ gia.

  Đọc thơ Bùi Xuân tôi thích tôi đồng cảm  không phải ở chỗ người đọc đi tìm những câu mở đầu vụt chớp những kết thúc bất ngờ những giai điệu riết róng ám ảnh mà là ở chỗ cái nhìn lạ xa lạ mẫn tiệp và đậm nhân bản của anh về một sự việc một hình ảnh.Nhà thơ đã cảm hoá ta bằng một tình yêu chân thật tinh khôi bằng cách diễn đạt từ tốn và thông minh:Anh xin nhận tình yêu em/làm ngôi nhà vĩnh cửu/xin nhận xác thân giả tạm này/làm nơi chốn/xin nhận cõi người /làm quê hương/sinh diệt nghìn trùng/bời bời cát bụi.(Ý).

   Tập thơ Ẩn dụ mưa được chia làm hai phần lớn. Phần I:Thắp tượng trưng cho ánh lửa trên con đường "phục sinh" là cái tôi qui tụ ánh sáng khúc ca người đốt lửa là con đường niềm tin để tác giả hướng mắt về cuộc sống.Phần này sự sáng tạo và "nhập thế" của anh rất đắt rất bạo liệt mạnh mẽ nổi trội các bài:Trái đất mang hình giọt nước mắt Khúc lưu đầy của hạt bụi Dấu hỏi bông lau hoặc ở bài Bùn non:Bùn non.Gió rít mưa xối. Nước mênh mông đồng bãi. Phấp phỏng tiếng trống làng. Nước sàn sạt cuốn đi nhiều thứ. Nước đọng lại bùn non.Mẹ bốc lên lòng bàn tay mình những giọt bùn non tươi rói. Ánh cười của mẹ gợi cho anhvị đất hương của mùa. Cái nhìn của mẹ gợi cho anh một cách nghĩ một cách nhìn một cách sống. Phần II:ẩn dụ mưa là ẩn dụ về nỗi buồn bị đánh thức là kỷ niệm đã xa bay là tình yêu và những giấc mơ huyền hoặc. Phần này còn nặng thơ cũ vần vè dễ đọc cách nhìn cũng hạn hẹp vặt vãnh lục bát anh gieo còn dễ dải.Tuy vậy cũng có một vài bài hay có ấn tượng:Trên cánh đồng sinh khôn đời người/em là lúa sinh khôn của mẹ/mẹ đã cầm trên tay những bông lúa trĩu hạt/nhưng mẹ ngả nón về không/trong đôi mắt khô ngơ ngác giữa chiều gió thổi. Những câu thơ buồn nhưng tác giả biết nâng niu con chữ để câu thơ vực dậy một khúc ca hy vọng.Hay ở bài thơ Những chiếc nồi đất anh viết kỹ sắc sảo nét đẹp bài thơ huyền ảo và lấp lánh cuối trời :Anh cất giữ cho mình mảnh vỡ/những chiếc nồi đất / ngày xưa/mẹ phì phò thổi cơm mỗi bữa/ gửi vào đó lời thầm thì của mẹ...

  Sự thành công của tập thơ còn ở chỗ Bùi Xuân đã "xử lý" rất tốt chắc và sâu các hình tượng với những suy nghiệm và giọng điệu thơ chúng hài hoà gợi mở trong sáng:Lưa thưa mưa bay chiều quán nhỏ/uống cạn cốc đầy.Đôi chân bước/ấy thế...mười năm xuôi con dốc.../mười năm ngoảnh lại...đất trung du(Quán nhỏ trung du) bài Đà Lạt...Những câu thơ ngắn những bài thơ ngắn trong tập cũng bớt đi nỗi đam mê sử thi hoành tráng nhạc điệu mòn sáo mà ở tuổi anh những nhà thơ thường "mắc phải":Lặng im/nỗi buồn đặt quánh như đất/lặng im/giấc mơ sinh nở/lăngim/hoa gạo/đỏ.(Những bài thơ ngắn).

  Thơ ca là tiếng vọng của tâm hồn là lời ước nguyền về thế giới tốt đẹp là tinh yêu-sẻ chia nỗi đau nhân quần với những khái niệm ước lệ như vậy Ẩn dụ mưa với  45 bài chắt chiu trong tập thiết nghĩ thơ Bùi Xuân sẽ cọng hưởng rất nhiều rất nhiều tâm hồn bạn đọc.Dường như nhà thơ đã rất cố gắng rất chăm chuốt từng bài với ý nghĩa cao nhất đẹp nhất là mang hơi thở của thời đại mang tiếng nói những người gần gụi thân quen ở quanh ta và chí có thế bạn đọc mới yêu mến nó trong niềm hứng khởi và mỉm cười .Chết đi cái cũ rích để sống lại cái mới mẻ.Hy vọng Bùi Xuân đã làm được việc ấy và tập thơ Ẩn dụ mưa là bước khởi đầu ấn tượng được khẳng định hay là một minh chứng?


        

                      VỪNG ƠI-KHÚC CA TÌNH YÊU CÔ ĐƠN

                                VÀ KHÁT VỌNG

                           Đọc tập thơ Vừng ơi của Nguyễn Phương Dung

                                               Hội Văn nghệ QuảngNam 2003

   Bất ngờ biết được câu: vừng ơi/ Nhưng em mãi ngập ngừng không dám nói/ Trước đời anh môi run câu thần chú/ Biết mở ra em được những gì?. Vừng ơi-khúc ca tình yêu cô đơn của người đàn bà cô đơn khắc khoải và khao khát tình yêu đã bắt đầu vang vang bồi hồi như vậy. Ta bắt đầu chạm vào cõi mong manh mong manh bắt đầu chạm vào nơi một nửa vầng trăng nghìn năm lơ lửng/ nơi đêm đi qua cũng đành im sủng trước  tượng đài vô thanh của tâm hồn một con người nhiều ước vọng.

  Như tự giới thiệu Vừng ơi tập thơ đầu tay của Nguyễn Phương Dung sinh năm 1958 Tam Đàn Tam Kỳ Quảng Nam hiện là giáo viên có lời giới thiệu của nhà thơ Thanh Quế là: "Những cơn sóng ngầm ào ạt bứt phá nhưng lại biết kềm nén. Kìm nén tức là biết giữ mình vừ quyến rũ được người khác đến với mình..." đã mở ra một khung trời rộng mở để gặp gỡ tri âm giữa tác giả và bạn đọc. Ví như giữa nỗi lòng quạnh vắng đìu hiu ai chẳnh giao thoa với những câu thơ đầy ắp mênh mông nỗi buồn và suy cảm : Tháng mười một cuộn tròn trong nỗi nhớ/ chẳng có ai quán vắng hoa tàn/ ta ngồi xuống uống chén đời chếnh choáng (nam nhi tửu)/ giọt trễ tràng rơi xuống mênh mang (Điệp khúc tháng mười một). Mênh mông rơi xuống giọt trễ tràng đời ta chếnh choáng quán vắng hoa tàn lặng lẽ trôi trên nhánh sông người bạn cũ đã rơi rớt...Nhịp điệu thơ chị thật mới mẻ mặc dầu hình tượng thơ chưa sắc bén sâu nhưng bức tranh thơ đã có hình ảnh ray rức thổn thức vực được giấc mộng đẹp.

  Thôi thưòng thiển nghĩ nhà thơ luôn luôn mang bên mình một giấc mộng vẽ vời giấc mộng thứ cầu vồng bảy sắc rồi chợt thoáng bay xa. Nhất cử nhất động của thơ là thứ lời thứ tình  nồng nhiệt và riết róng giãi bày tâm sự sâu kín và những hoài niệm yêu thương với những chiếc bong bóng đã bay cao bay xa rồi mơ ước một chốc nào đó hoá thành con chim sẻ bay về đậu vào giấc ngủ :Thấp thoáng cơn mưa cuối năm bay qua phố vội vàng/ là đoii vai gánh hoàng hôn về muộn/ thơ em trở thành con thuyền phiêu du trên biển/ chở chút hương mùa xuân.(Thấp thoáng mùa xuân). Một ý niệm thời gian hương mùa thức giấc giữa nỗi lòng thi nhân. Mẹ bây giờ còn lại một mình/ gạt nước mắt mỗi chiều nghe ai hát/ lòng thầm gọi "Bậu ơi" khoảnh khắc/ lấy chồng về nguồn nước mắt chảy xuôi.(Một lần về thăm). Thơ chị thấm đẫm tình người nhức nhối trằn trọc với bao bất trắc và khát vọng của cuộc sống tình yêu không cầu kỳ chữ nghĩa nhưng chẳng thiếu sự tinh tế kín đáo.

  Với 52 bài được in trang trạng tập Vừng ơi mặc dầu không nhiều câu thơ tài hoa như: Chia giữa mộng thực là thơ/ chia hai trăng ấy phải bờ môi anh hoặc : Trời xanh đồi cỏ cũng xanh/ quẩn quanh phố núi kiếm cành tâm mai/ngờ đâu trượt một dốc dài... nhưng thơ Nguyễn Phương Dung có tiếng gọi thầm thì trầm bổng về cảm xúc. Chị biết khai thác về nỗi niềm riêng hoà tan đồng cảm nhuần nhị với hạnh phúc và nỗi đau gặp gỡ và chia tay... những cung bậc rất chung của con người . Hy vọng chị sẽ vượt qua những giây phút ngại ngùng chắc chữ hơn tự tin hơn để trang viết thêm sinh động "hóm hỉnh và phóng túng" như có lần chị đã thốt lên : treo đôi mắt ngoài đầu ngõ/ đêm đêm thay thế một vì sao.

  

 

                         THANH TRƯỜNG-TRƯONG ANH TA VÀ

                              TUYẾN LỬA SÔNG CÔN

          (Bút ký Tuyến lửa sông Côn của Thanh Trường NXB Đà Nẵng 2005)

   Thanh Trường là bút hiệu và Trương Anh Ta là tên thật của nhà thơ có quê quán Đại Lộc Quảng Nam hiện đang sinh sống tại thành phố Đà Nẵng.Có thể kể một ít về ông như sau:Nguyên Bí thư Huyện ủy Đại Lộc những năm thập kỷ 60 Phó Ban Tuyên giáo tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng(1972-1976) tham gia cách mạng nhiệt thành;giờ đã "rất xa" cái tuổi "thất thập cổ lai hy" nhưng tinh thần vẫn minh mẫn sức khỏe vẫn đảm bảo cho công việc viết lách và nhàn tản.Ông đã  có nhiều tác phẩm đã xuất bản gồm 4 tập thơ:Bóng nước Vu Gia(1994) Giọt sương(1996) Nguồn đất(2000) Hai màu lá(2003) và 2 tập bút ký:Những năm ở lại miền nam(2001) và tập thứ 2 mới đây là Tuyến lửa sông Côn.

  Đọc Tuyến lửa sông Côn tôi rất tâm đắc như lời giới thiêụ của tập sách "Trong hầu hết các tác phẩm của Thanh Trường xuyên suốt vẫn là đề tài cách mạng.Ở Tuyến lửa sông Côn tác giả- với tư cách là người trong cuộc-đã ghi lại một cách trân trọng về những nhân vật sự kiện gắn bó với vùng đất Đại Lộc anh hùng những nhân vật sự kịên đã đi vào kí ức của nhân dân. Đọc Tuyến lửa sông Côn chúng ta hiểu thêm về vùng đất và con người Đại Lộc một vùng đất chịu nhiều đau thương mất mát".                                                                     Tập bút kí của ông chân chất và ngồn ngộn các hình ảnh và các sự kiện của một vùng đất. Cách viết cách giới thiệu vùng đất con người tập quán khát vọng của các nhân vật trữ tình trong tác phẩm của ông nặng tính lịch sử và cách mạng như bài  Nghĩa hội cần vương Đông du và duy tân ông viết: " huyện trung du Đại Lộc trong có vùng sông Côn được cho là căn cứ địa để hỗ trợ mặt phía bắc cho căn cứ Tân Tĩnh ở Trung Lộc huyện Quế Sơn. Trên địa bàn có nhiều đồn của nghĩa quân như Bình Yên Giao Thủy Cấm Muồng Ái Nghĩa Ô Gia Gia Cốc... Riêng tuyến phòng ngự Động Hà Sống chạy xuống núi Sơn Gà một vị trí khá quan trọng giáp sát ranh dải đồng bằng rộng lớn.

    

     Thực dân Pháp dập tắt phong trào Cần Vương thì phong trào Đông Du và Duy Tân lại vùng lên dữ dội. Phong trào Đông Du do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo nhân vật Đại Lộc có nhiều đóng góp nhất cho phong trào là cụ Đỗ Đăng Tuyển cụ sinh ra năm Bính Thìn (1862) tại làng Ô Gia tổng Quảng Hóa nay thuộc xã Đại Cường"

     

More...

Khúc quê và tấc lòng

By Huynh Minh Tam

 KHÚC QUÊ VÀ TẤC LÒNG

                   KHÚC QUÊ

                            Nguyễn Nhã Tiên

Em va gàu vào giếng khuya gọi ngàn đêm thức giấc

Bếp lửa thức xa xôi rực đỏ một góc trời

Ngọn gió thức ngoài đường chập chùng cung bậc

Trừ tịch thức gọi người đủ mặt lứa đôi

Đập vỡ thời gian hoa lửa rơi rơi

Mọi ẩn nấp xô bật tường rêu nhú lời cỏ biếc

Bấc se se ngập ngừng ngoài sân đợi tết

Nước tràn mái tràn thùng em gánh tiếp niềm tin

Giếng ngời ngời gương mặt của đêm đêm cháy sáng

Đêm giũ mình bóng tối

Những cát bụi không còn nơi ẩn trốn

Hạnh phúc từ ngực người nhuộm thắm cỏ hoa

Cả ngàn nhà nước từ giếng chia ra

Cười nói dội vang vang hồi âm của đất

Có một thiên đường đêm ba mươi rất thật

Trừ tịch chia đều mọi ngõ trầm hương

Khói bay trong nhà khói bay hàng hiên về em nhé

Giao thừa đang điểm

Có một tiếng gàu bỏ quên ngoài giếng

Chạm vào tôi ngân mãi khúc quê mùa !

     Quay về " cố quận" là sực tỉnh thổn thức thao thức về quê hương dấu yêu với mây ngàn gió nội bảng lảng khói sương mà dồn tụ chất chứa xiết bao kỷ niệm Khúc quê của Nguyễn Nhã Tiên mang đầy hợp âm sử thi đã quay về quê nhà Đại Lộc chưa chan hạnh phúc của  khí tiết đầu xuân mà dàn dụa đớn đau về nỗi nhớ một bóng hình hư ảo thần tiên.

    Em va gầu vào giếng khuya gọi ngàn đêm thức giấc/ bếp lửa thức xa xôi rực đỏ một góc trời. Em va vào tâm thức của tôi mênh mông sóng gió bốn mùa vào nỗi cô đơn của cuộc đời tôi ngay giữa trừ tịch thức gọi người đủ mặt lứa đôi mà lòng tôi bồi hồi quá hoang vắng quá. Bởi cái không gian mùa xuân đang bổi hổi bồi hồi rộn ràng hé lộ ngọn gió thức ngoài đường chập chùng cung bậc có thể làm ấm áp xanh mướt tâm hồn tôi lắm chứ ? nhưng biết sao bây giờ ? Vì tiếng gầu va mãi va mãi vào cái giếng của lòng tôi sâu hun hút để tôi ước muốn đập vỡ thời gian hoa lửa rơi rơi đập vỡ cây đàn muôn điệu để ngắm lại bóng yêu dấu  nghìn năm cũ. Tác giả đã " khéo lựa chọn" các chi tiết các hình tượng gây ấn tượng mang chút hoành tráng với màu lửa đỏ rực trên "nền sân khấu" phơi mở một hình ảnh hừng hực của mùa xuân.

  Lách qua âm hưởng của có vô vàn thanh âm bay qua hân hoan dịu êm và vỡ vụn-thơ dọc đường với gió- chỉ nghe nặng lời ồn ào; trở lại quê hương lần này qua nỗi đau vô hạn người thân yêu xa biệt cảm xúc lắng đọng lại thơ anh hình tượng dày hơn sâu hơn đa mang hơn. Mọi ẩn nấp xô bật tường rêu nhú lời cỏ biếc/ bấc se se ngập ngừng ngoài sân đợi tết/ nước tràn mái tràn thùng em gánh tiếp niềm tin. Tính triết luận của thơ trở nên ngọt ngào và đời sống câu chữ và âm điêu thăng hoa trong lòng bạn đọc

   Thơ ca khởi nguồn từ nỗi đau từ những tâm hồn biết chia sẻ nỗi bất hạnh và khát vọng của nhân sinh rồi phát sáng và quay về làm ngọn lửa sưởi ấm cuộc đời làm viên thuốc thuyên giảm nỗi thất vọng của bể dâu trời đất mười lăm năm lưu lạc Thuý Kiều tìm lại bản ngã nguyên sinh nô giỡn cùng thời gian lau lách. Bởi vậy nhà thơ nào chẳng "tấu lên" khúc bi hùng ca của nội tâm trắc ẩn và hoài niệm mênh mang. Khúc quê của nhà thơ Nguyễn Nhã Tiên cũng nằm trong dòng chảy miên man ấy. Nhưng dòng chảy ấy biết hút lấy chất nhưa xuân xanh cỏ hoa hồn di mục/ tóc xanh kỳ hẹn sai ngày/ khóc ngang ngửa mộng canh dài mấy phen (Thơ Bùi Giáng ) cười nói dội vang vang hồi âm của đất.

   Rồi lơ đễnh hớ hên bồi hồi trong đêm xuân giữa lòng xuân với bao mộng đẹp nhà thơ kết lại khúc ngân vọng thường tình giữa bề bộn cảm xúc :Có một tiếng gầu bỏ quên ngoài giếng/ chạm vào tôi ngân mãi khúc quê mùa chưa làm thoả lòng bạn đọc khó tính với đôi con sáo nhuộm thắm cỏ hoa .Dẫu sao khúc quê là một bài thơ hay giàu hình tượng nhiều bức tranh đẹp chạm vào được cốt lõi của tính triết luận thơ ca là : quê nhà thời gian sinh tử và mùa xuân.

More...