bài đọc trên Phong Điệp về giải thưởng...Quảng Nam

By Huynh Minh Tam

Nhìn lại một số giải thưởng VHNT địa phương

 

Minh Thúy

 

Nhìn lại một số giải thưởng VHNT địa phương

(Toquoc)- Xin điểm lại một số giải thưởng thu hút sự chú ý của công chúng xuất hiện lần đầu trong khoảng 10 trở lại đây hoặc những giải thưởng đã có trước năm 2000 nhưng thời gian sau đó đã được điều chỉnh lại về thời gian xét giải thưởng hay có thay đổi mang tính bước ngoặt trong cơ cấu giải thưởng.

Giải thưởng của Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) được tổ chức trao tặng lần đầu năm 2006. Giải thưởng này dành trao tặng cho các tiểu thuyết và tập truyện xuất bản hằng năm năm sau xét giải năm trước. Năm 2006 giải thưởng được trao cho các tập Là mình (thơ) của Lý Lan thông non và em trăng sương mù (thơ) của Trần Hữu Dũng; các tập Không dám tắt đèn (thơ) của Ánh Huỳnh Cõi mê (tiểu thuyết) của Triệu Xuân Người đàn bà bơi trên sóng (truyện ngắn) của Bích Ngân được trao tặng thưởng. Không có tác phẩm lí luận - phê bình được trao thưởng. Năm 2007 không có giải thưởng chính thức nào được trao trong cơ cấu giải thưởng hằng năm chỉ có các Tặng thưởng dành cho Lê Thiếu Nhơn (tập thơ Trong bóng người xưa) và Liêm Trinh (tập truyện ngắn Mỹ nhân ngư). Năm 2008 Hội Nhà văn TP.HCM trao giải thưởng cho tập truyện thiếu nhi Tôi là Bêtô của Nguyễn Nhật Ánh và tập thơ Hát thơ của Thanh Nguyên; tặng thưởng được trao cho tiểu thuyết Sự trở lại của vết xước của nhà văn Trần Nhã Thụy và tập thơ Cơn ngạt thở tình cờ của Trần Lê Sơn Ý. Năm 2009 giải thưởng văn học của Hội Nhà văn TP.HCM được trao cho Tiểu thuyết đàn bà (tiểu thuyết) của Lý Lan và Ra ngoài ngàn năm (thơ) của Trương Nam Hương; Hội Nhà văn TP.HCM không trao Tặng thưởng nhưng không phải vì không chọn được tác phẩm nào mà do… Hội thiếu kinh phí. Sau ba năm tổ chức trao thưởng năm 2009 Hội Nhà văn TP.HCM quyết định bổ sung thêm vào hệ thống giải thưởng thường niên: Giải thưởng Nhà văn trẻ. Dự kiến giải thưởng này chỉ trao cho các tác giả từ 30 tuổi trở xuống “có tác phẩm dự thi đạt số phiếu quá bán ở vòng chung khảo nhưng bị loại khỏi thứ hạng cao nhất của giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM”; “nếu có tác giả trẻ dưới 30 tuổi đoạt giải cao nhất của giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM thì giải thưởng “Nhà văn trẻ” sẽ được trao cho tác giả trẻ dưới 30 tuổi đạt số phiếu quá bán kế theo ở vòng chung khảo”. Như vậy thực chất của Giải thưởng Nhà văn trẻ là Tặng thưởng cho tác giả trẻ. Động thái này của Hội Nhà văn TP.HCM góp phần (cùng với một số cuộc thi văn chương khác…) khẳng định sự chuyển động và ồn ào trong đời sống văn học phía Nam có vai trò quan trọng của các cây bút trẻ.

Giải thưởng văn học nghệ thuật của UBND TP.HCM được trao 2 năm một lần cho các tác phẩm được công bố trong vòng 2 năm trước khi xét giải tính từ ngày 01/11 năm thứ 2 của kỳ chấm giải trước đến hết ngày 30/10 năm thứ 2 của kỳ chấm giải hiện tại. Cơ cấu giải thưởng này gồm giải thưởng và tặng thưởng. Có sự chênh lệch về trị giá giải thưởng tặng thưởng: giải thưởng trị giá 35 triệu đồng được trao cho các tác phẩm điện ảnh sân khấu còn đối với tác phẩm văn học (mỹ thuật kiến trúc âm nhạc nhiếp ảnh) chỉ được nhận mức 20 triệu đồng; tặng thưởng 17 5 triệu đồng sẽ được trao cho các tác phẩm điện ảnh sân khấu múa nhưng đối với văn học mỹ thuật âm nhạc kiến trúc nhiếp ảnh chỉ dừng lại ở mức 10 triệu đồng. Do năm 2000 Ban Tổ chức không trao giải nên năm 2003 UBND TP.HCM đã xét trao Giải văn học nghệ thuật lần thứ 3 cho các tác phẩm xuất bản trong vòng 3 năm: từ 2000 đến 2003. Trong số các tác giả văn học được tặng thưởng lần này có nữ nhà thơ Thu Nguyệt với tập thơ Cõi lạ; không có tác phẩm văn xuôi nào đoạt giải thưởng tặng thưởng. Giải thưởng văn học nghệ thuật TP.HCM lần 4 (2003-2004) lần đầu được trao cho Tấm ván phóng dao (tiểu thuyết) của Mạc Can trước đó trong văn học chỉ có tặng thưởng.

 

Các giải thưởng văn học nghệ thuật địa phương xuất hiện lần đầu như: Giải thưởng văn học nghệ thuật Trịnh Hoài Đức lần thứ 1 (1995-2000) của Đồng Nai; Giải thưởng văn học nghệ thuật tỉnh Lâm Đồng lần 1 (1998-2004); Giải thưởng văn nghệ Hải Phòng lần 1 năm 2005; Giải thưởng văn học nghệ thuật Phố Hiến lần 1 năm 2001 của Hưng Yên Giải thưởng văn học nghệ thuật lần thứ 1 năm 2006 của UBND TP. Đà Nẵng Giải thưởng văn học nghệ thuật lần 1 năm 2002 của Phú Yên; Giải thưởng Văn nghệ Bạch Đằng Giang của huyện Yên Hưng; Giải thưởng Văn học nghệ thuật Đất Quảng lần thứ I năm 2010 của Quảng Nam Giải thưởng Văn học nghệ thuật Nguyễn Ðình Chiểu lần 1 năm 2010 của Bến Tre ….

 

Ngoài các giải thưởng trên có thể kể đến các giải thưởng được thành lập từ trước năm 2000 như: Giải thưởng văn học nghệ thuật Cố đô của UBND Thừa Thiên Huế Giải thưởng văn học nghệ thuật tỉnh Đắc Lắc Giải thưởng văn học nghệ thuật Nguyễn Trãi của Hà Tây Giải thưởng văn học nghệ thuật Nguyễn Khuyến của Hà Nam Giải thưởng văn học nghệ thuật Côn Sơn của Hải Dương Giải thưởng văn học nghệ thuật Hạ Long của Quảng Ninh Giải thưởng văn học nghệ thuật Nguyễn Du của Hà Tĩnh Giải thưởng văn học nghệ thuật giai đoạn 1975-2000 của Khánh Hòa Giải thưởng văn học nghệ thuật Huỳnh Văn Nghệ của Bình Dương Giải thưởng văn học nghệ thuật Thủ đô của Hà Nội…

Ba sự kiện gây được chú ý nhiều nhất đối với dư luận năm 2010 về giải thưởng văn học ở địa phương là Giải thưởng văn học nghệ thuật Thủ đô của Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội Giải thưởng thơ Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2009 Giải thưởng văn học nghệ thuật Đất Quảng lần 1 năm 2010.

Giải thưởng văn học nghệ thuật Thủ đô năm 2009 được trao cho 3 tác phẩm: Bút pháp ham muốn (phê bình) của Đỗ Lai Thúy Họ vẫn chưa về (tiểu thuyết) của Nguyễn Thế Hùng Trà nguội (thơ) của Đặng Thị Thanh Hương. Hội Liên hiệp trao giải thưởng cho các tác phẩm lần này nhằm tôn vinh các tác giả và tác phẩm có chất lượng cao đóng góp vào sự phát triển cách tân thể loại và thúc đẩy phong trào sáng tác ở Thủ đô tạo thêm những dấu ấn mạnh mẽ cho Cuộc vận động sáng tác về đề tài 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Sự bất bình thường thứ nhất trong giải thưởng năm 2009 so với các năm trước là Ban tổ chức không họp báo không thông báo gì trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đáng lẽ công tác truyền thông giải thưởng cần được đẩy mạnh hơn để cho thấy sự công bằng minh bạch thì ở đây việc trao giải lại thiếu sự công khai và như thế cũng là thiếu cả sự minh bạch thiếu khách quan. Sự im lặng của Ban tổ chức cho thấy có điểm gì đó chưa ổn khiến họ ngại va chạm với dư luận. Ông Chủ tịch Hội Liên hiệp cho biết Ban tổ chức lo ngại “có thể sẽ gây ra những phức tạp ồn ào trong lễ trao giải” nên “không thử thách tác phẩm trước dư luận”. Họ chọn cách im lặng như một “thử nghiệm”. Sự bất bình thưởng thứ hai là vấn đề thẩm định tác phẩm. Cũng theo ông Chủ tịch Hội Liên hiệp cuốn sách của Đỗ Lai Thúy gay cấn vì “dùng bút pháp phân tâm học ở nước ta chưa ai dùng”. Thực ra thì từ trước năm 1945 phương pháp phê bình này đã du nhập vào Việt Nam các tác giả như Nguyễn Văn Hanh Trương Tửu Đàm Quang Thiện đã để lại dấu ấn nhất định. Trước 1975 phương pháp phê bình này ở miền Nam thu được một số thành tựu đáng kể cả về mặt lí thuyết (Freud Jung Fromm Lacan Barchelard…) lẫn thực hành (Nguyễn Văn Trung Tam Ích Thanh Lãng Uyên Thao Đỗ Long Vân Huỳnh Phan Anh Chơn Hạnh Đặng Tiến Trần Nhựt Tân..). Gần hơn nữa từ sau 1986 nhất là từ năm 2000 trở đi có rất nhiều công trình trực dịch phân tâm học được giới thiệu ở ta ngay cả việc ứng dụng lí thuyết này vào khảo sát văn học cũng không phải chỉ có Đỗ Lai Thúy (Phạm Văn Sĩ Trần Thị Mai Nhi Nguyễn Thị Bình…) thế nhưng ông Chủ tịch Hội Liên hiệp vẫn cho rằng “chưa ai dùng” phương pháp phân tâm học. Sự bất bình thường thứ ba trong giải thưởng Thủ đô là chủ trương “phân chia đều niềm vui” cho người viết. Thứ tư là sự “mâu thuẫn” giữa ông Chủ tịch Hội Liên hiệp (Bằng Việt) và thành viên Ban chấp hành (Vũ Quần Phương) xung quanh việc giải thưởng cho tập thơ Trà nguội của Đặng Thị Thanh Hương.

 

Chủ tịch Hội Liên hiệp đánh giá giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội là “giải thưởng mang tính văn chương mang tính chuyên nghiệp trao cho tác giả có thâm niên trong nghề văn có đóng góp có thành tựu”; còn “giải Hội Liên hiệp mang tính phong trào” nhưng là “đỉnh cao của phong trào” dành trao tặng cho người trẻ yếu tố lạ tìm tòi cách tân đổi mới”.

 

Sự kiện thứ hai là giải thưởng cuộc thi thơ Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) lần thứ 4 năm 2009 do Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Cần Thơ đăng cai tổ chức. Cuộc thi quy định đề tài “Viết về vùng đất và con người ĐBSCL Cần Thơ hình thành và phát triển qua các thời kỳ: mở đất phương Nam chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cho đến công cuộc đổi mới công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước phát triển và hội nhập”. Từ kết quả cuộc thi này dư luận chỉ ra có một quy luật trao giải bất thường đang vận hành các cuộc thi thơ ĐBSCL: cuộc thi lần 2 do Hội VHNT Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre tổ chức giải Nhất được trao cho tác giả người Bến Tre; cuộc thi lần 3 do Hội VHNT Long An tổ chức giải Nhất thuộc về tác giả tỉnh Long An và cuộc thi lần 4 do Liên hiệp các Hội VHNT Cần Thơ tổ chức lại đến lượt nhà thơ Cần Thơ (Hoàng Tường Phong) đoạt giải Nhất. Đáng chú ý hơn nữa là trường hợp tác phẩm - tác giả đoạt giải Nhì (Sương Hồ của Lê Thanh My) trong cuộc thi lần 4 này: Lê Thanh My là Tổng Biên tập tạp chí Văn nghệ Thất Sơn của An Giang tác phẩm đoạt giải của Lê Thanh My là một bài thơ tình (theo quy chế đề tài thì Sương Hồ đáng lẽ phải bị loại ngay từ sơ khảo); ông Trịnh Bửu Hoài- Chủ tịch Hội VHNT An Giang lại chính là Trưởng ban sơ khảo đồng thời là ủy viên Ban chung khảo cuộc thi… tất cả điều ấy khiến công chúng nghĩ đến có sự sắp xếp cơ cấu trong giải thưởng. Nghi án có sự thiếu công bằng khách quan trong xét trao giải thưởng không những không được làm sáng tỏ thuyết phục đông đảo công chúng mà còn được bổ sung bằng một loạt ý kiến cho rằng bài thơ đoạt giải Nhất cuộc thi “có vấn đề” rằng nó (Trăng nghẹn) thể hiện cái nhìn u tối sai lệch về mảnh đất và con người ĐBSCL nghĩa là nó có những biểu hiện chệch hướng về mặt tư tưởng chính trị nó phạm vào nhiệm vụ tuyên truyền cổ động. “Một số cơ quan có thẩm quyền ở thành phố Cần Thơ đã yêu cầu Ban Giám khảo chọn lại bài khác để trao giải Nhất thay cho bài thơ này vì nó u ám quá. “Trăng thì phải sáng thậm chí rất trong sáng chớ không thể nào nghẹn được”. Tuy nhiên Ban Giám khảo đã quyết định không chấm lại cuối cùng họ quay sang tác giả… Chủ tịch Hội Văn nghệ Cần Thơ yêu cầu tác giả làm đơn từ chối giải thưởng” (http://www.tienphong.vn/) còn tác giả thì khẳng định sẽ không rút khỏi giải dù bị sức ép. Từ chuyện bất thường trong kết quả cuộc thi thơ ĐBSCL lần 4 như thế nhiều sự bất thường khác cũng triệu vời ra trước công luận. Sau cùng: bài thơ Trăng nghẹn bị rút khỏi giải thưởng. Cuộc thi thơ Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) lần thứ 4 đặt ra nhiều vấn đề của giải thưởng văn học hiện nay trong đó có quan hệ giữa văn học và chính trị văn học và hiện thực….

 

Sự kiện thứ ba là Giải thưởng văn học nghệ thuật Đất Quảng lần 1 năm 2010 của Quảng Nam tôn vinh các tác giả tác phẩm trong 10 năm (1998-2008). Kết quả 49 tác giả và nhóm tác giả thuộc 5 chuyên ngành (âm nhạc mỹ thuật nhiếp ảnh văn học sân khấu - điện ảnh) được trao giải thưởng. Sự bất bình thường trong giải thưởng này thể hiện trước hết ở sự thẩm định và quyết định trao giải: có tập truyện ngắn được Ban tổ chức đánh giá “bố cục đơn giản một số nhân vật chỉ ở dạng phác thảo” nhưng lại được trao giải C. Sự bất thường khác là sự “chia phần thưởng” thiếu công bằng: các thành viên chủ chốt của Ban Chấp hành Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Nam (Chủ tịch Phó Chủ tịch Phó TBT tạp chí…) vừa chấm giải vừa gửi tác phẩm dự giải cuối cùng mỗi người nhận ít nhất từ một giải thưởng trở lên với số tiền từ 10 đến 15 triệu đồng; và đa số tác giả đoạt giải cao đều nắm những cương vị chủ yếu của Hội văn học nghệ thuật.

 

Theo đánh giá của nhà thơ Hữu Thỉnh Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam: một số giải thưởng văn học ở địa phương có những biểu hiện xa lạ lệch lạc về định hướng gây bất bình hoang mang phản ứng trong dư luận. “Khuynh hướng của các giải thưởng đó là đề cao chủ nghĩa hình thức tiếp thu vội vã lí luận ở nước ngoài cường điệu những mặt đen tối tiêu cực mất mát đắng cay; nhân danh đổi mới áp đặt những thiên kiến ẩn ức cá nhân thoát li hiện thực thoát khỏi bối cảnh lịch sử cụ thể sa vào gán ghép tùy tiện thực chất là phủ nhận quá khứ”. Như thế giải thưởng văn học ở địa phương không phải là những giải thưởng độc lập mà là những giải thưởng nằm trong khuôn khổ chính trị nhằm vào cụ thể hóa thực thi đường lối chính sách văn nghệ của Đảng và Nhà nước. Tính định hướng và phong trào trong quá trình xem xét quyết định trao giải thưởng ở địa phương biểu hiện rất rõ đây là nguyên nhân khiến những tìm tòi về hình thức và sự tiếp nhận hệ thống lí luận văn học phi chính thống bị phê phán. Những phát ngôn như “chủ nghĩa hình thức” “bệnh hình thức” vẫn có sức nặng trong việc phân loại tác giả và định đoạt giá trị của các tác phẩm văn chương.

 

Giải thưởng văn học ở các tỉnh thành trong cả nước chủ yếu có tác dụng tạo dựng không khí khuấy động phong trào nhất là định hướng tư tưởng cho văn nghệ sĩ và phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương. Đó là những giải thưởng chính sách giải thưởng phong trào đoàn thể ít nhiều chịu sự chỉ đạo của công tác tuyên giáo.

 

Nguồn: Tổ quốc

More...

đọc thơ La Trung

By Huynh Minh Tam

           Bài viết của Huỳnh Minh Tâm

           GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam

            ĐT 0510 3865898 

 

                 ĐỌC KÝ NHẬN GIAO MÙA

 ( Nhân đọc tập thơ ký nhận giao mùa  của La Trung NXB Văn học 2010)

 

 

Gặp gỡ La Trung vài lần trò chuyện buâng quơ không ra chuyện bởi tào lao tùng phèo nhưng qua đấy tôi có cảm nhận tính tình La Trung bỗ bã mộc mạc hơi “ồn”. Rồi đọc tập thơ ký nhận giao mùa của anh và thật sự ngạc nhiên hớn hở bởi thơ anh kiệm lời kín đáo đôi chỗ tinh tế đến xao xuyến ngỡ ngàng.

 

                   Gió tàn đông ngõ lời giã biệt

                   Cành biếc xôn xao

                   Vo ve ngôn ngữ bướm ong

                   Sợ mất hương trinh hoa vàng gọi nắng xuân về dâng hiến

                   Nhện cố giăng trận đồ bát quái

                   Côn trùng ăn đến vô tư

                   Mặc người sờ nắn âm dương

                   Mắt cửa vẫn mở thời gian hàng trăm thế kỷ

                   Hẻm nhỏ cựa mình trở giấc

                  Nghe đường xưa ký nhận giao mùa

                                                          (Ký nhận giao mùa)

Đó là những câu thơ hay thể hiện tầm quan sát thiên nhiên của La Trung sâu sắc cách diễn đạt là lạ xê dịch ý tưởng bất ngờ. Ký nhận giao mùa  ở bài thơ trên là ký nhận giao thoa hòa quyện giữa thiên nhiên với thiên nhiên giữa cái đẹp vô tư ưu ái với cái đẹp ưu ái vô tư ở một thời khắc cụ thể đông tàn xuân đến của trời đất mênh mông. Nhưng ký nhận giao mùa  ở cả tập thơ theo thiển ý của tôi là những ký nhận sâu xa hơn về thời gian rộng lớn hơn về vũ trụ. Ở một vài nghiã nào đó đó là  ký nhận giữa con người và  thiên nhiên giữa con người và con người giữa những điều chưa biết và những điều đã biết là hòa quyện trộn trạo trong thức tâm không thời khắc. Và đôi lúc bản ngã ta cũng không cần hỏi ai ký nhận ký nhận về điều gì ký nhận ở thời khắc nào ký nhận để làm gì. Bởi khi đặt điều hỏi đáp là ta đã bó hẹp vào khuôn khổ của lý trí và cảm xúc. Đọc ký nhận giao mùa là đọc cái hòa quyện khôn dò với hóa công.

                   Em có về hãy nhẹ bàn chân

                   Như ngày xưa

                   Cái thời dưa muối

                   Kẻo cha ông nửa mừng nửa tủi

                   Rằng ta lạc dấu cội nguôn!

                             ( Phút thiêng)

Đọc ký nhận giao mùa bạn đọc đễ dàng nhận ra thơ La Trung không to tiếng ít lý sự thi phi với đời sống-xem như một đối tượng cần đối đãi dẫu cuộc đời không phải lúc nào cũng mật ngọt với hoa thơm mà dường như phần nhiều là đắng đót chua cay.

                   Chạm cốc tình say ngỡ bóng thiên đường

                   Loay hoay dỗ cơn phiền muộn

                   Cầm tháng năm lên bờ xuống ruộng

                   Phố xưa mấy bận đi về

                   Giọt đắng trái mùa chạm phải nỗi đau

                   Ngẩn ngơ bên bờ tâm thức...

                                           ( Chín tới)

 

Hành trình đi tìm cốt tủy thơ ca tình yêu và “ bản lai diện mục” trong thơ La Trung tựa những anh hùng tìm đạo thời xưa đầy công gai trắc trở cũng là những phản tỉnh và cô đơn. Nhưng ở La Trung có vẻ nhẹ nhàng điềm đạm hơn thi ca hơn

                   Trở giấc cô đơn

                   Dấn thân theo từng con chữ

                   Nửa đời duyên với nợ

                   Lọt lòng mấy cuộc tri âm

                   Hồn thi nhân tỉnh thức nửa đêm

                   Tứ thơ đau ứa trên đầu bút

                                      ( Cáo trạng không lời)

Hoặc là:    thương nhánh sông quê uốn mình cầm hơi xứ sở

                 Sư cụ xả thiền vội vã rung chuông

                   Rớt câu thần chú

                   Vọng thấu năm căn

                                      ( Ngộ)

Thơ La Trung đa tình nhưng ít đa đoan nhiều chuyện rối rắm. Có lẽ anh đã tìm ra chõ tựa vững chắc cuối cùng của cuộc sống ? hoặc là anh đã “ ngộ” ra cái bến bờ dừng chân của con thuyền kỳ hồ lang bạt. Bởi vậy chăng mà giọng thơ anh nhỏ nhẹ đầm ấm chứ không ccos ý lên gân cốt dạy đời thấm dần vào tâm hồn bạn đọc như sự lan tỏa của không khí và hơi sương như hương hoa và sắc nắng. Cái lý sự trong thơ anh là cái lý sự khêu gợi chủ yếu cho chính mình.

 

                   Thiếu nghĩ

                   Con ôm ghì hiện tại

                   Nụ cười cha gãy hai

                   Rơi bên tượng đài...

                   Giật mình!

                   Nghiêng tai hứng âm thanh nguồn cội

                   Tiếng cười ông và cha dội vào trí não

                   Nhận ra lối mòn

                   Con tất tả đi tìm...

                   Nụ cười gãy thiêng liêng

                                      ( Nụ cười gãy).

Là người con của đất Điện Bàn nhân kiệt góp một giọng hót lạ cho quê nhà âu đó cũng là nguồn hạnh phúc vô biên. Cái riêng biệt của thơ La Trung là không có vẻ riết róng nghịch ngợm kỳ ảo ngôn từ như Nguyễn Hàn Chung; không có chất liệu ngữ điệu mới mẻ kiêu sa trí tuệ như Nguyễn Minh Hùng; cũng không có vẻ “ tân kỳ hình thức” những câu thơ tài hoa như Phạm Tấn Dũng. Có lẽ thơ La Trung giao thoa gặp gỡ nhiều với thơ của Nguyễn Nho Khiêm thời trước.  Đó cũng là giọng thơ nhỏ nhẹ dịu dàng đầy suy tư và chiêm nghiệm về lẽ sống lẽ đời thường trực “ quẫy đạp” để “thoát thai’ những ý tưởng những phát hiện mới và anh dần đến độc chín của sáng tạo. Tôi dám chắc rằng anh tự biết sức mình tài mình và không tự huyễn hoặc là bao. Còn với mảnh đất Hội An nơi anh đang sinh sông và viết dường như anh là “người trong nhà” đang thể hiện để lại một dư âm ?

 

Lan man dàn trải như thế là tôi muốn mở ra cái quê quán tôi xưa ngẫu nhĩ đâu đó của tác giả còn tiềm ẩn. Biết đâu tôi lại bỏ sót những hình ảnh kín đáo kỳ vĩ nào đó của thơ La Trung. Chẳng hạn tôi thích những câu thơ sau mà chẳng biết vì sao:

 

                   Chút hương đời ra mắt cuộc trần ai

                   Mặc tháng năm thì thầm kén chọn

                   Thôi nhé !

                   Tình riêng

                   Riêng tình đã trọn

                   Khắc lời thương lên sắc màu lận đận

Hát ru người qua ngõ thị phi...

                   ( Tự ru)

 

So với tập thơ đầu tay Gót quê thì tập  ký nhận giao mùa  đã có những bước tiến vượt bậc về cấu tứ cách diễn đạt và độ chín của ý tưởng. Tuy nhiên mặt hạn chế của thơ La Trung là biên độ đề tài còn hạn hẹp và quen thuộc quá như : khúc tơ dâng mẹ ngôi yêu xưa sau sóng mơ tấc lòng hậu ca...Những cái đề như vậy dễ làm bạn đọc có cảm giác “sáo” và “sến”.Ở đây cần phải nói thêm là cũng với những đề tài ấy nhưng anh chưa có hướng nhìn mới hơn thổi vào bài thơ một cảm xúc mới hơn làm độc giả ngỡ ngàng. Quả thật điều này cũng hết sức khó khăn hết sức sáng tạo. Ở thể thơ lục bát thơ của La Trung cũng chưa tạo ấn tượng cho lắm ý tưởng còn nghèo đơn điệu về nhịp điệu không có những bước đột phá sắc sảo về ý đồ nghệ thuật

 

Có lẽ không thừa trong các bài viết nhận định của tôi tôi luôn “ ghi chú” rằng trên đây là những  nhận xét những kiến giải của một cá nhân cá thể không đại diện cho một “chân lý”; bởi vậy trong bài viết có thể có rất nhiều sai lầm hạn hẹp rất ít tính chân thực tính khách quan độ chính xác của biện chứng khoa học; hy vọng “ tài liệu tham khảo” này đóng góp một phần rất nhỏ để soi rọi vào “ ký nhận giao mùa” của La Trung. Nơi ấy chưa đựng một vẻ đẹp tâm hồn của một con người và một nhà thơ. Để kết thúc bài viết này cho tôi  bộc bạch vài lời như một tình yêu :

 

                   Vào một thời khắc nào đó của ngày trong năm

                   Nhưng tốt nhất đẹp nhất có lẽ

                  Vào một buổi sáng

                   Của mùa xuân

                   Anh gánh hoa ra chợ

                   Mọi người xúm xít vòng quanh rạng rỡ

                   Người thứ nhất bảo : rau anh thơm quá !

                   Người thứ hai bảo : rau anh sạch quá !

                   Người thứ ba bảo : rau anh xanh quá !

                   Người thứ tư bảo : rau anh non quá !

                   Người thứ năm bảo : rau anh mềm quá !

                   Người thứ sáu bảo : rau anh ngọt quá !

                   Người thứ bảy bảo : rau anh mập quá !

                   Người thứ tám bảo : rau anh dài quá !

                   Người thứ chín bảo : rau anh rẻ quá !

                     Rồi mọi người bỏ đi

                   Chỉ còn anh

                   Và gánh hoa

                   Có thể vào một thời khắc nào đó của ngày trong năm

Nhưng tốt nhất đẹp nhất có lẽ

Vào buổi trưa hoặc buổi chiều

Của mùa hè hoặc mùa thu

Anh gánh hoa ra chợ

Và mọi thứ sẽ khác.

                  

           Bài viết của Huỳnh Minh Tâm

           GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam

            ĐT 0510 3865898

More...

về thái bảo dương đỳnh

By Huynh Minh Tam

Bài viết của Huỳnh Minh Tâm

GV trường THPT Huỳnh NGọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam.

ĐT 0510 3865898

Tamdailoc@gmail.com

Tamdailoc.vnweblogs.com

 

ĐỌC TIẾNG VỌNG NON NGÀN

 

( Nhân đọc tập thơ tiếng vọng non ngàn của Nguyễn Cường và Thái Bảo-Dương Đỳnh NXB Thanh Niên 2011)

 

Những ngày đầu năm mới Tân Mão đọc tập thơ tiếng vọng non ngàn  của Nguyễn Cường và Thái Bảo Dương Đỳnh tâm hồn tôi dường như thêm tươi trẻ thêm xuân; bởi thơ của hai anh đầy ắp khí chất trẻ thơ “nhí nhảnh” tươi non- tựa con suối đầu nguồn để biến thành sông chảy ra biển lớn. “ em bé !/ trần truồng đen đủi/ lăn trong cát bụi gió Lào/ đèo cao-vùng cao/ mẹ già bước thấp bước cao/ địu nắng về bản nhỏ/ chắp vá sắc màu/ trắng tôn/ vàng lá cọ/ chen vào thung lũng nhỏ/ mù sương” ( Khát vọng- Nguyễn Cường). Hoặc là “ Đêm Tà-un/ sông Rihn thao thức/ rượu tà vạc mềm môi/ sóng sánh mắt người sơn nữ/ rừng ngàn năm chưa ngủ/ rì rào tiếng gió canh khuya” ( Đêm Tà-un- Thái Bảo Dương Đỳnh)

 

 Tiếng vọng non ngàn là tập thơ chung và là đầu tay của hai anh cùng người  miền xuôi nhưng lên công tác ở vùng núi cao Tây Giang và Hiệp Đức ( Quảng Nam)   nên thơ các anh mặn nồng đậm đà tình nghĩa với đất hoa cỏ rừng con người và các lễ hội văn hóa của đồng bào dân tộc Cà Dong Cơ Tu

“ Ơi chàng trai Cà-dong !/ Đời em như con suối/ suối trôi một đời cần mẫn/ em một đời long đong ! / em cõng niềm vui qua bao dốc núi/  qua bao nà bãi/../có nụ cười mân-cri theo về trong giấc ngủ/ đêm bập bùng chung chiêng” ( ơi chàng trai Cà-dong !- Thái Bảo Dương Đỳnh). Đọc tiếng vọng non ngàn dễ thấy nét chung nhất của hai tác giả là những câu thơ như chảy từ ngực ra kết hợp với sự ham đọc ham học hỏi và qua lăng kính sáng tạo của các cá nhân chứ không xô bồ xô chảy xô ngã như một số nhà thơ ở vùng “biển” Quảng Nam : Phùng Tấn Đông Đỗ Thượng Thế Huỳnh Minh Tâm. Thơ các anh là những giấc mơ rừng vào sáng sớm hoặc giữa đêm. Đọc thơ nghe như có tiếng suối róc rách chảy quanh nhà tiếng chim chìa vôi hót bên tai như tiếng gà rừng vang xa. “ Anh gặp em giữa lưng chừng núi/ cái mỉm cười đá núi chênh chao/ chiều biên cương cái nắng hanh hao/ cái gió cái sương nơi này cũng khác/em mỉm cười trời chiều dịu mát/ nắng dùng dằng chưa chịu trốn vào đêm/ chẳng biết tung tăng anh cũng múa cùng em” ( Cái mỉm cười- Nguyễn Cường). “ ngày/ người đàn ông ngực trần/ da nâu tóc đen/ tìm bữa ăn- vào núi/ người đàn bà cõng trên lưng tình yêu/ hà hà xuống suối/ lũ trẻ lem nhem chạy ven sườn núi/ nhặt từng cọng rau xanh” ( Một góc vùng cao- Thái Bảo Dương Đỳnh).

 

Giọng thơ hồn thơ xác tín một con người với những nhân cách nhất định và tương đối đầy đủ. Tôi tin như vậy. Khát vọng về thơ thì khôn cùng và nó xác tín nên một tình yêu. Nguyễn Cường bảo : “ Thơ với tôi được khơi nguồn từ cảm xúc thật. Để có được một câu thơ “ nẩy mầm” từ xúc cảm như vậy rất khó. Phải “ phát tỉa” nghiêm túc trên những “ triền đồi” vốn dĩ đã cằn cỗi từ lâu và rất dễ “xói mòn”...Thơ tôi yêu cái thật”. Còn Thái Bảo Dương Đỳnh thì tâm sự : “ Với tôi thơ là sự trải nghiệm của cuộc đời qua lăng kính tâm hồn. Thơ mang một sứ mệnh giải tỏa những xúc cảm và cũng là sự tri ân những điều tốt đẹp của cuộc sống”. Đó là những suy nghiệm và rút tỉa hết sức chân tình và quí báu mặc dù chắc chắn nó cũng chưa nói hết những ẩn khuất màu nhiệm trong tâm hồn. Chẳng hạn thơ còn chia sẻ biết bao số phận hẩm hiu và bất hạnh thơ còn kết nối những hồi sinh : “ Lầm lủi đưa chân/ bóng đổ dài gấp hai trời chiều nắng cháy/ gùi củi xem chừng quá nặng so với thân hình nhỏ thó của em/ thằng chồng đi trước xâu chuột treo cán rựa/ điếu thuốc trên môi ám khói bám vào mái tóc cỏ rối em. Mười sáu !” ( Rưng rưng mắt đá- nguyễn Cường).

 

Đóng góp cho tập tiếng vọng non ngàn Nguyễn Cường có 20 bài và Thái Bảo Dương Đỳnh là 22 bài. Giọng thơ chân chất ngôn ngữ thơ có pha “ tạp chất”- ngôn ngữ dân tộc Cơ tu Cà dong-trong trẻo đậm sắc thái biểu cảm dễ đi vào lòng người. Nhiều bài thơ như những bức tranh có hình ảnh đẹp xanh biếc ( rung rinh bếp lửa nhà sàn/ rừng cây ngái ngủ sương ngàn giăng mơ- ru nhau nghìn trùng Thái Bảo Dương Đỳnh). Nhiều mặt tốt đẹp như trên so với một chút ít hạt sạn như anh Nguyễn Liên Châu đã chỉ ra : “ những câu thơ minh họa” hoặc những bài “ không dính kết với rừng núi” thì bạn đọc cũng dễ cảm thông cho hai tác giả “ mới bước ra sân khấu thơ để sắm vai” thôi. Tập đầu tay như thế là có ấn tượng và đường dài còn phía trước.

 

Bài viết của Huỳnh Minh Tâm

GV trường THPT Huỳnh NGọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam.

ĐT 0510 3865898

Tamdailoc@gmail.com

Tamdailoc.vnweblogs.com

More...

vĩ thanh hoa

By Huynh Minh Tam

Bài viết của Huỳnh Minh Tâm

GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam

ĐT 0510 3865898

tamdailoc@gmail.com

 

ĐỌC VĨ THANH HOA

(Nhân đọc tập tản văn Vĩ thanh hoa của Phan Chín nxb Thanh niên 2010)

Tiếp nhận xem xét đánh giá một tác phẩm văn xuôi một tản văn như vĩ thanh hoa  của nhà văn Phan Chín theo thiển ý của tôi như đón nhận một con người với mênh mông những tư duy phức tạp và sinh động đầy đủ các cung bậc vui buồn hờn giận sâu sắc các sắc thái tình cảm lay lắc đa đoan. Cho dẫu những tản văn của  Nhà văn Phan Chín không dài việc khai triển các ý tưởng cũng không quanh co rắc rối cho lắm chỉ rặt là cái tôi khao khát cái đẹp và hướng thiện bị dằn co dằn vặt trước những hiện thực của đời sống tốt có xấu có kỷ niệm đẹp bị đánh mất trước dòng chảy thời gian như muối xát...Những câu chuyện ấy có lẽ ai cũng biết cũng đã từng trải cũng giáp mặt hằng ngày cũng đã có những xúc cảm này nọ tương tự... nhưng viết ra bằng thứ ngôn ngữ óng mượt dịu dàng cách dẫn dắt câu chuyện tinh tế và đượm màu sắc “duy tình” như thế hẳn một sức sáng tạo đáng nể và văn phải có tay nghề vậy.

Đọc vĩ thanh hoa “bập” vào các vấn đề ta bắt gặp một lô một lốc các sự kiện các tiểu tiết lai rai của cuộc sống nhưng khá gay cấn trái khoáy giưã cái hiện thưc đan xen quá khứ cái tốt  đan xen cái xấu cái sự thật sờ sờ đan xen cái huyền ảo tưởng tượng. Để lần ra nắm bắt chủ ý của tác giả không khó khăn lắm tuy nhiên gợi lòng ta mang mang bao điều rất khó giải thích. Với những cảm nhận ban đầu như vậy nên khi đọc vĩ thanh hoa mặc dầu đôi ba bài tôi đã đọc vài lần trên các báo và tạp chí tôi vẫn phải đọc chậm nghiền  ngẫm đọc để “vỡ” ra những kiến giải khác đọc để yêu văn chương và cuộc sống đọc và viết đọc và chấp nhận một lộ trình để tri âm với tác giả.

Vĩ thanh hoa là đọan kết của cái đẹp chăng ? cái đẹp sao có đoạn kết cái đẹp là cái vĩnh cửu biền biệt. Vĩ thanh hoa là khúc ca cuối cùng của hoa là sự rơi rụng của các cánh hoa là sự phai nhạt của  hương vị chăng ? sao lại thế được vì cái “cũ” phải mất đi thì cái “mới’ mới được sinh ra chứ ban đêm mất đi mới xuất hiện ban ngày bóng tối mất đi mới xuất hiện ánh sáng. Tôi đã đặt ra bao điều để lý giải để “mở mang” cái tư duy hạn hẹp của mình và tôi cũng đã đọc tản văn của Phan Chín để ngẩn ngơ. “những chậu cúc quê mùa vẫn hồn nhiên thả hương vào rét xuân ngai ngái. Một vĩ thanh ngọt ngào của hoa rồi sẽ lan vào thẳm sâu đêm trừ tịch. Nhưng khi hương đã tỏa đi rất có thể hoa chợt se lòng!...Hoa có vĩ thanh riêng dành cho đồng loại và cho con người.Nhưng dường như chút vĩ thanh huyền diệu ấy không phải ai cũng nghe thấy!...” (Vĩ thanh hoa). Dường như trong  vĩ thanh hoa nhà văn Phan Chín đã “đượm” và “chín” một chất giọng. Cái chất mang mang trời đất cái mơ mộng ảo huyền cái thương nhớ mông lung như khi ta đang ngắm những bức tranh sơn thủy trong trầm tư ân ái. “ Mỗi dòng sông có một triết lý riêng của mình. Sông Thu Bồn cũng vậyTriết lý của nó là sự giao hòa của sóng nước bãi bờ núi non; của một con đò của mỗi mái chèo và của mỗi con người. Với triết lý ấy Thu bồn đã giữ được vẻ đẹp hiền hòa xanh thẳm của mình. Để rồi qua bao nhiêu phong ba sóng gió Thu Bồn vẫn là dải lụa mềm vắt từ điệp trùng Trường Sơn qua đồng bằng châu thổ và ra tới biển...” ( Giữa xanh thẳm Thu Bồn). 

Trước khi ra mắt bạn đọc tâp tản văn vĩ thanh hoa thì Phan Chín cũng đã có hai tập thơ. Tập đầu tay quê nhà cô Tấm Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Nam 2003 thơ viết cho thiếu nhi và tập thơ mùa đã thu NXB Văn học 2007. Và tôi cũng đã có bài giới thiệu hai tập thơ này. Thật ra thơ của Phan Chín không có nhiều ý tưởng mới mẻ cho lắm cá tính trong thơ anh chưa bạo liệt và mạnh mẽ như một số nhà thơ khác ở Quảng Nam cách thể hiện ngôn ngữ còn “chậm” so với tốc độ đổi mới của thơ thời đại. Nhưng trong tản văn này dường như có điều kiện hay là “ vùng đất tốt” để anh tung hoành ngang đọc các ý tưởng biến những câu chuyện đơn sắc ngẫu nhiên thành những câu chuyện đa thanh và khái quát cái vụn vặt thành sự kiện. như “cúp điện điện thoại di động viết thư vịt mở cửa lồng ếch”. Rồi có những tản văn anh viết tưng tửng hí hoáy nhưng làm ta giật thót mình về chiều sâu văn hóa về kí ức không chỉ là giấc mơ mà còn là “nền tảng” hoặc “bóng râm” của cuộc sống chẳng hạn như : “ góc chợ quê nhớ nắng một thoáng Mỹ Sơn Tam Kỳ hẻm Kiều ơi”. Rồi ta gặp những bức tranh đẹp và sống động sinh sôi những đọan văn bềnh bồng như mây trôi như nước chảy như sương bay như : “ phố núi ký ức trăng rằm nghe mưa hoa cải cuối giêng về đồng câu cá rô đồng”. Ta thử độc một đoạn văn trong “ Phố núi”. “  Bằng sự đột hiện sau những nhấp nhô dốc ấy các thị tứ thị trấn trên đường Hò Chí Minh ngay từ đầu đã tạo nên cho người qua đường một cảm giác thích thú. Thích thú vì phố hiện ra trước mắt bất ngờ như có phép màu. Thích thú vì phố hiện ra trong mắt không theo bề ngang mà theo bề rộng bao quát từ trên cao. Thích thú vì có khi phố mờ ảo trong sương có khi lấp loáng trong nắng trường Sơn hoang dã...Phần tôi ngoài việc bị sương núi mê hoặc không ít lần còn cảm thấy nôn nao khi từ trên cao nhìn xuống thấy con đường dẫn mình vào phố núi rực một màu vàng của hoa dây lang rừng hay tim tím của hoa ca-ry kết chùm chạy dài tăm tắp”. Rồi có lúc tôi ngẫm nghĩ đi ngẫm nghĩ lại và tự hỏi thắc mắc thắc tai. Sao Phan Chín lại “hiền lành chân thực” thế nhỉ. Với tôi tên tập sẽ là “ Vĩ thanh hoa tản văn-thơ” hoặc “cộc lốc” : “vĩ thanh hoa thơ” cũng chẳng có ai “ kiện cáo” bắt bẻ gì cả. Điều ấy để nói lên rằng Vĩ thanh hoa tản văn đầy chát thơ cái quyến rũ của ngôn từ và hình ảnh cái quay quắt kỳ dị nhớ thương thương nhớ những kỷ niệm ký ức quê nhà và tình yêu cái bất ngờ léo lắt léo dọc léo ngang rất nhiều thú vị của các ý tưởng như ở các bài “ Ăn hoa Đừng dợi cười mới chụp Nghĩ từ phía con đò   Khúc lãng du sông nước...”. Chắc chẳng khó khăn gì bạn đọc nhận ra tư duy về thơ ca thi pháp thơ ca đã là chiếc chìa khóa động lực và nền móng để cho tản văn Phan Chín cất cánh và bay xa.

 

Rất nhiều điều tốt đẹp và trên những hy vọng hứa hẹn này nọ mô tê gì đó thường thấy trên các bài viết như tôi thế này. Dẫu rằng cũng có đôi bài viết của anh vội vàng lý giải vấn đề rất nhiều cảm tính và ngắn gọn ít chữ hàm súc quá mức cần thiết. Dẫu rằng tôi cũng biết thời đại bây giờ mà viết dài thườn thượt viết mông lung quá chừng luận chứng thì bạn đọc cũng chẳng ưa thích gì. Nhưng lại là dẫu rằng dẫu vậy dẫu sao dài dài chút đỉnh cũng phô diễn đầy đủ hơn cái tầm nhìn sắc bén thấu đáo của tác giả cũng như khái quát hơn hoặc có cái nhìn “ chính trực” hơn về những lệch lạc u ám các lĩnh vực phức tạp của đời sông đang thay đổi chóng mặt chóng tai. Dẫu sao đọc “vĩ thanh hoa mang lại rất nhiều sự thích thú cho tôi và là một trong số rất ít những tác phẩm làm tôi thích thú những năm gần đây. Với thiển ấy này xin chúc mừng sự thành công của nhà văn Phan Chín.

 

Bài viết của Huỳnh Minh Tâm

GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam

ĐT 0510 3865898

tamdailoc@gmail.com

More...

viết về Nguyễn Hàn Chung

By Huynh Minh Tam

THƠ NGUYỄN HÀN CHUNG THỜI GIAN GẦN ĐÂY

 

Các nhà văn Lê Trâm Tiêu Đình Nguyễn Mậu Hùng Kiệt các nhà thơ Phan Chín Nguyễn Hải Triều Đỗ Thượng Thế ở Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Nam có dịp bảo nhà thơ Nguyễn Hàn Chung kể từ ngày ly quê đặc biệt những bài thơ anh viết thời gian gần đây có gì đó ‘lạ” lắm ai đó trong chúng ta “thử mổ xẻ” xem sao ? Xét mình cũng đa đoan tò mò tọc mạch có nhận được một số bài thơ anh gửi tặng nên tôi cũng muốn “thử bút” “ thử bình” “thử vạch” ra một vài điều gì đó trong thơ Nguyễn Hàn Chung như một lời cảm tạ cho những ngày cùng nhau bên “ chén rượu bình trà”.

 

Thực ra tôi đã đọc thơ Nguyễn Hàn Chung rất nhiều và luôn luôn dõi theo những bước chân thơ của anh xem như một tri âm. Từ những tập

in chung hoa  ven sông (1984) cánh cửa mở (1987) tuyển thơ Quảng Nam (1998) đến tập đầu tay tìm tôi trong bóng nxb Đà Nẵng 1999   và tập nói hộ phù du nxb Đà Nẵng 2002 tôi cũng đã có những bài viết những nhận định cụ thể ở nhiều khía cạnh có thể “xác đáng” hoặc “ chưa xác đáng” về thơ anh. Theo thiển ý của tôi thơ Nguyễn Hàn Chung có vẻ sắc sảo lém lỉnh ma quái của ngôn từ; cái vẻ đắc địa trù mật của các hình tượng; rắn chắc đầy đặn của ý tứ. Phải chăng bởi anh là nhà thơ nhưng cũng viết đều tay những bài bình những bài giới thiệu sâu sắc có những phát hiện mới mẻ lý thú truyện ngắn anh viết cũng kỳ khu có nghiên cứu và trăn trở ( tuy vậy dường như chưa thành công không phù hợp với tuy duy của anh đã làm anh đôi lần thất vọng ?). Xét về nghề nghiệp Nguyễn Hàn Chung là nhà giáo giảng dạy văn chương có sức đọc rộng và sâu có tiềm lực thẩm thấu về văn chương. Nói lan man dài dòng như thế để thấy rằng Nguyễn Hàn Chung là cây bút đầy khát vọng và đam mê văn chương luôn nổ lực và có ý hướng làm mới mình. Riêng tôi có cảm nhận thơ ca của anh đã có độ chín nhất định đã được nung nấu và tinh lọc. Thử xem anh “nghịch ngợm” cố tình tạo ra cái kỳ ảo của ngôn từ và ý tưởng tốt đẹp như thế nào

 

Ngày quê nhà đùm túm tiếng tre reo
Cày cục đến chai sần cơn bếp núc
Còn một khắc chẳng cam buồn đắm ngực
Lao nếp nhăn theo gom góp bụi đường
           
Màu mưa nào không trắng xoá hà phương ?
Em ở lại chiều anh không hẹn thuở
Anh thức hết những bọt bèo rơm rạ
Tiếng chuông câm rưng rức buổi xa người


Nhỏ chăn đồng cuối tóc phải chăn côi
Ngoai ngoái lại mồ cha xanh nếp trán
Nâng chai cạn mà không đành dốc cạn
Giọt rơi tràn con mắt nhướng sa mi
  
Tuổi lăn tròn đời bể nửa viên bi
Những cạnh sắc cứa vào đâu cũng xóc
Thôi thì cố níu trái tim thất lạc
Nếu một mai nó cứng cựa chai lì

              ( À ơi điệu cũ).

Khi Nguyễn Hàn Chung còn ở quê nhà vài anh em văn nghệ “ rỉ tai nhau và vài anh em “ thẳng thừng” bảo: ở đất Điện Bàn đại diện thơ mới là nhà thơ Nguyễn Minh Hùng đại diện cho thơ truyền thống là nhà thơ Nguyễn Hàn Chung. Điều ấy anh cũng đã biết có làm anh “mắc lòng” hoặc “ vui vẻ” gì không ? Thời ấy tôi cũng ít chú ý và không biết được. Tuy nhiên xét rộng ra cụ thể hơn thì những nhận định ấy nhiều phần sai lệch chủ quan. Phần chủ quan đầu tiên dễ dàng nhận thấy đó là Nhà Thơ Nguyễn Hàn Chung luôn luôn ý thức sự sáng tạo đổi mới thơ mình cả cách viết ( hình thức thơ thi pháp thơ...) cả đề tài phản ánh ( nội dung thơ tư tưởng thơ...). Và ý thức ấy nó lồ lộ ra đến mức anh luôn “ to tiếng” “dõng dạc” mỗi khi đọc thơ những nhận định đánh giá về thơ của anh chân thành rõ ràng có lúc làm cho đối tượng “xấu hổ”. Anh ủng hộ và rất yêu quí những giọng thơ trẻ những cây bút trẻ. Do vậy mặc dầu anh đang ở xa quê nhưng rất nhiều người vẫn trông ngóng tin tức về anh và theo dõi đọc thơ anh. Những năm xa quê thơ anh đượm buồn và có chất kỳ hồ hơn. Ở đấy chất chứa câu chữ lóng lánh kỷ niệm vẻ đẹp u hoài vè quê hương và bè bạn những khúc “ độc tấu” về nỗi cô đơn và công việc về những giá băng lạnh nhạt của con người và con người ở cái xã hội quá thừa thải vật chất

Sâu màu mắt làn quê không cửa

Nhớ mưa nghe rớt giọng ru khàn

Biệt là gió căng buồm níu trĩu

Em vòng thon eo ếch thương khan

 

 

Từng yêu ấp từng mê man tở mở

Từng vo ta trong cam khó thủ thường

Mòn con mắt quấn câu vào chữ rối

Phiếu thăm dò chật cứng váy mơ em

 

Thì cứ tống cứ tan ngần ấy tuổi

Biết cùng ai chia sớt chuyện buông tuồng

Chiều tới sáng lục tìm mưa cắm cúi

Ngón với bàn ngong ngóng đến thê lương

 

Gần rất lạ xa tới tầm tay với

Sợi mong manh riết róng cột âm thầm

Lầu cây khế leo tấm thân chùm gửi

Nhướng lên mù thấy rõ  một xa xăm

 

Vẫn mụ mị lùng bùng  cơn cớ trước

Và ngơ ngơ ngác ngác những phương chiều

Mùa không hắt tia nắng vàng vô phước

Kẻ điêu nào còn léo hánh cô liêu

 

                   ( Bài Tha phương không tám)

 

Nếu xét thơ của một số nhà thơ Quảng Nam gần gũi với anh thì thơ với ngôi đền thơ của Nhà thơ Nguyễn Minh Hùng là cái đẹp vẻ trí tuệ phản ánh vào nội dung- cái được phản ánh là sự chắc lọc từ ngữ là sự gắn bó hữu cơ của từ ngữ và giai điệu của thời hiện tại là hình tượng thơ tráng ca. Thử lấy bài Ánh Trăng sau đây làm một minh chứng

 

Xin những lỗi thề cùng về hối tiếc dưới trăng

chiếc thuyền mở trộm trên dòng sông đêm ấy

ánh trăng cùng chúng mình

trôi...

 

Xin những ban trưa cùng về tạ lỗi với trăng

dịu êm xa rồi trước mắt là dốc nắng

bước chân vội vàng không gian thưa vắng

chiều chiều rồi trăng một cánh chim đi

 

Xin những mộng tưởng đầy chưa dừng chân tìm lại cố hương

nơi giấc mơ đầu tiên có thiệt

nơi cắt rốn chôn nhau một tình yêu đúng giờ trăng mọc

vượt qua những bụi cỏ gai rơm rớm con đường

 

Xin những cát bụi bay đi trả lại vẹn nguyên từng vạt sương đêm

để ánh trăng yên  tâm ngả mình trên cỏ ướt

để còn mãi đợi chờ tin yêu phía trước

ngày anh trở về anh

em trở về em

 

Rồi xin những đêm về đêm ơi đừng nhủ hết

trăng sẽ lặn ngay

                   trước mỗi giấc vô tình.

                             ( Ánh Trăng)

Bài thơ có nhiều khoảng lặng có những nỗi đau thương thất vọng được che giấu thật khéo léo kín đáo những tia hy vọng những hình ảnh đẹp đan xen với những mất mát và kỷ niệm. Đó là một bài thơ hay và buồn.

Thơ với ngôi đền thơ của nhà thơ Phùng Tấn Đông là nét tài hoa của giai điệu chữ nối chữ chữ liên kết chữ như sóng vỗ miên man mênh mông ngôn ngữ có sắc thái biểu cảm của cái đẹp và tình yêu của mềm mại và sinh động mang nặng hơi thở thơ văn xuôi biền ngẫu đầy đặn và hiện đại. Anh có bài viết về Thu Bồn rất hay ấn tượng và đặt trưng.

 

Sông đã chảy những róc rách đời đời mồ côi cõi đất đá đỉnh núi thiêng Ngọc Linh ra Cửa Đợi

chảy lấp lóa lưng trần gai xước nước mắt tổ tiên thời qua sông vỡ đất gieo mầm

chảy nheo nhóc tiếng gà thung xa khép một trời sao lưu lạc

chảy nghèn nghẹn điệu tù và sừng trâu đoàn người sững lại nhớ cố hương

 

Thu Bồn ơi

tôi đã gặp những người già suốt một đời chưa kịp lên bờ

những cánh buồm rã mục đắp mùa đông bãi sú

mùa mưa bão chim bầy giạt hết về bên kia núi

những chiếc ghe bầu không sinh nở nằm úp mặt chờ sông

chảy đằng đẳng thời gian sáng sáng mưa bom chiều chiều ly tán

chảy thản nhiên xanh mặc phía lở bên bồi

trôi cả tuổi thơ tôi lá mục cành khô những hạt sầu đông đắng

trôi cả dáng em thon thả  non mềm lá cỏ bờ sông

con dế gáy giọng buồn nhớ mùa dâu xanh mướt

cũng chính là em đã phả vào tôi mùi da thịt dậy thì ngào ngạt suốt đời trăng

 

                             (Riêng với Thu Bồn)

Bài thơ chạm vào được bản thể của cuộc đời bật lên thân phận của cai một cái cá nhân hòa quyện bền chặt với tất cả với mọi người.

Những hình ảnh và ngôn ngữ có chút điệu đàng nhưng đẹp một cách không thể nào chối bỏ. một bài thơ đi được với thời gian khó tính khô khốc. Còn thơ Nguyễn Hàn Chung trước đây ngôn ngữ cầu kỳ khô khan nhưng giờ hóm và nghịch ( đùa). Anh rất khác biệt với hai nhà thơ trên. Điều ấy thật đáng quí. Thơ anh có ấn tượng về chất điền dã về những xchieem nghiệm có tính “mỉa” và sâu. Không phải tự dưng mà có một dạo Điện bàn có một “ trào lưu thơ Nguyễn Hàn Chung”. Điều ấy chứng tó thơ anh đã có những ám ảnh nhát định với bạn đọc.

Giờ thiwf đã “nhạt” rồi người ta lại trân trọng anh ở sự mới mẻ đa dạng các đề tài ở cách biểu đạt uyển chuyển suy tư đấy nhưng cũng dạt dào cảm xúc ngoài tính hàm súc ra câu thơ còn gợi bao điều

 

Tất nhiên  không bao giờ em muốn  

làm một người đàn bà đầu xuân

còn khoác chiếc áo tàn đông ủ rũ

 ngồi bó gối dưới hiên mưa

chỉ vì em khát nhìn giọt rơi từ mắt người đàn ông 

 lấy hân hoan trong cơn túng quẫn 

làm quà tặng ngày sinh em

 

người xưa phán định những cấm kỵ đàn bà đàn ông

bằng sự nhân danh quyền phép

thử hỏi có ai dám bò qua mép vực

thả thời gian xuống hố thẳm dò thử nông sâu?

 

cứ bàn tán hoài ích gì

ngày cứ lên sông cứ chảy chim cứ hót

 hoa tàn trái rụng chồi xanh

già úa héo tàn tro trai trẻ phổng phao

niềm tin cũ  bào mòn  thơ ngây niềm tin mới

 

                                 (Bản gốc)

Thơ là cái đặc dị huyền ảo của tâm hồn. Và nếu không ngoa tôi vẫn cho rằng thơ cũng là cái đặc dị huyền ảo của trời đất. Khi bài thơ đã được viết ra đến chữ cuối cùng thì nó không còn là của riêng ai và bài thơ ấy sẽ được kéo dài mãi mãi-nghĩa là nó được độc giả các thời đại khác nhau sẽ viết thêm lên được bổ sung được khám phá ở nhiều khía cạnh và mãi mãi. Bài thơ hay sẽ không có tuổi ( tuổi sống lẫn tuổi thọ). R Tagore viết rằng : “ thế gian này tôi hiểu chẳng bao nhiêu/ những hành động của con người/ những dòng sông thành phố/ những núi non hoang mạc/ những muông thú không quen/ cây cỏ lạ lùng/ trời đất bao la/tôi chỉ biết xó nhà/ đầy thất vọng tu du hành ánh mắt/ và tôi đi nhặt/ những thấp thoáng ngôn từ/ những bức tranh rơi rớt/ mà chất đầy những phía hư vô/ của niềm kinh nghiệm/ có một nhà thơ của trái đất/ đó là tôi/ những điệu ly tao của đất/ vọng vào ống sáo tôi chơi/những gì trái đất gọi/ tôi đêm giấc mộng đáp lời/ trong những giờ im lặng/ của trái tim mình/tôi đã nghe ra khúc Đại Hòa âm”( nhà thơ của trái đất-Nhật Chiêu dịch). R. Tagore ca ngợi thơ ca sự tự do sự sáng tạo niềm yêu cuộc sốn kinh ngạc đã giúp cho con người vượt qua tù ngục của cô đơn nỗi sợ hãi cái chết và tìm thấy ánh sáng của cuộc sống thấy được chân lý vĩnh hằng. Tôi rất tin tưởng điều huyền diệu ấy. Và tôi hy vọng nhà thơ Nguyễn Hàn Chung với khát vọng bền bĩ với đam mê và tình yêu thơ ca mãnh liệt sẽ viết tiếp nhiều bài thơ hay tạo những cơn phấn chấn khác như ngọn núi lửa phun trào. Đó là niềm vinh quang ( lặng lẽ cô đơn) của cái chết- nghĩa là chết đi những cái cũ kỹ bạc thếch mới sống lại những cái mới mẻ hiện đại. Như mọi lần để kết thúc bài viết nhiều phần chủ quan này xin cho tôi gửi vài lời thơ như một lời cảm ơn với bạn  đọc

 

Chót vót trời cao cái nắng tháng năm đổ xuống chảo nước nóng

Trong hồ cạn nước bầy cá ôm nhau thở những hơi cuối cùng

Mùi bùn nồng nặc hâm hấp tử khí

Tôi rụt cổ vào căn nhà vách đá đọc vài trang báo nhảm nhí cô đơn

 

Cả gió với những đôi tay dài ngoẳng đôi cánh to bè

Thổi bốc ném tung tóe cát bụi vào khu vườn mẹ tôi

Khu vườn vẫn duỗi mình thiêm thiếp

Đâu còn gì mà mong mùa ổi thơm những quả chín vàng tươi

 

Mồ hôi nhễ nhại trên lưng ba tôi trên má ba tôi những đường cày

Ông bập thuốc dưới một gốc dừa già có tí bóng râm chẳng nghĩ ngợi điều gì

Rồi ông ngủ bên con chó Bê Tô thè chiếc lưỡi dài khô hớp từng hớp hơi nước

Con trâu trong chuồng góc vườn  đôi mắt hiu hắt lim dim mơ về tháng ba rơm rạ xanh mát đầy đồng

 

Chợt mẹ tôi ra sân vườn đôi chút âu lo

Những chậu xương rồng nhọn sắc đâm vào đôi bàn tay mẹ  đâm vào ánh nắng chói chang

 

Những chậu xương rồng xanh ngắt lá cây đỉnh núi

Quệt vào đôi mắt mẹ  nức nở tuổi mười lăm

 

Mẹ tôi mỉm cười

Hoa xương rồng

Đã nở

Lần đầu tiên

 

(Hoa xương rồng tháng năm).

 

Bài viết của Huỳnh Minh Tâm

GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam

More...

khúc III trường ca

By Huynh Minh Tam

Huỳnh Minh Tâm

   GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam

             ĐT 0510 3865898  tamdailoc@gmail.com

                                            tamdailoc.vnweblogs.com

III-SỰ LẶP LẠI

(Trong Phần I : bài ca của biển ở trường ca 1)

 

Mọi sự vật đều không là chính nó

Vì nó luôn biến đổi và ước lệ cái tên

Mọi sự lặp lại đều không là chính nó

Dẫu rất kỹ càng dẫu rất trơn tru

Và mọi sự lặp lại đều không là chính nó

Vẫn buồn phiền vì na ná chung chung

+

Ngày hôm nay và ngày hôm qua

Ngày tương lai và ngày hôm nay

Đều lặp lại đời thường tất bật

+

Đây là chiếc áo của anh mặc ngày hôm qua

Đây cũng là chiếc áo của anh mặc ngày hôm tê

Đây cũng là chiếc áo của anh sẽ mặc ngày mai

Chiếc áo ấy cũ rồi nhưng không vứt được

Vì sự túng bấn vì sự nuối tiếc

+

Đây là công việc của anh làm ngày hôm qua

Đây là công việc của anh làm ngày hôm tê

Đây cũng là công việc của anh sẽ làm ngày mai

Công việc ấy chẳng lý thú gì nhưng không vứt bỏ

Vì sự ràng buộc vì sự u mê

+

Đây là nỗi buồn của anh ở ngày hôm qua

Đây là nỗi buồn của anh ở ngày hôm tê

Đây cũng là nỗi buồn của anh ở ngày mai

Quá quen thuộc rồi nhưng không thể nào trốn tránh

Vì sự đau thương vì lòng yếu đuối

+

Sự lặp lại nhiều không kể xiết

Trong cuộc đời khổ ải lo toan

Đây là dòng thơ của anh được lặp lại

Lặp lại những buồn vui những khắc mong chờ

Đây lặp lại cái ăn cái mặc

Lặp lại nụ cười giọng nói dáng đi

Lặp lại nỗi khao khát và niềm hy vọng…

+

Như ngày và đêm

Như mặt trăng quay quanh quả đất

Như các mốt

Tất thảy tưởng chừng lặp lại

Tưởng chừng đổi thay

Tưởng chừng đêm tối.

 

Huỳnh Minh Tâm

   GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam

             ĐT 0510 3865898  tamdailoc@gmail.com

                                            tamdailoc.vnweblogs.com

More...

khúc II trường ca

By Huynh Minh Tam

Huỳnh Minh Tâm GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam ĐT 0510 3865898 tamdailoc@gmail.com tamdailoc.vnweblogs.com II. GIẢ SỬ (trong phần I : bài ca của biển ở trường ca 1) Giả sử cuộc sống anh không có điểm tựa Như trái đất mất dây nối với mặt trời Giả sử bài ca của anh bị quên lãng Trong tầng tầng lớp lớp thời gian Điều ấy được tưởng tượng ra thế nào nhỉ ? Trong đêm tối mênh mông anh sẽ chạy sẽ bay Sẽ phỉ nhổ vào khuôn mặt quỷ dữ Anh sẽ bò lên ngọn núi cao Gào thét và sương lạnh Anh sẽ nhìn xuống vực thẳm và mỉm cười Nụ cười cô đơn ảo não Dồn từ nghìn thế kỷ từ tỷ triệu năm Và như một chú chim ngây thơ bị đạn Như một quả táo nhả cành Cột xương sống của anh sẽ gãy làm tám Linh hồn anh sẽ bị chặt khúc nấu hầm Bởi địa ngục không có lòng nhân ái Như quả đất của chúng ta-hoa cỏ và màu xanh…? + Giả sử anh bị chối từ tình yêu Hay người yêu anh suốt đời xa khuất Giả sử trái tim anh không còn lửa Và quả đất này gió đã tắt từ lâu Anh biết chạy về đâu ? Anh sẽ tìm nguồn suối nào để tắm ? Đêm đen nào để anh nguôi quên ? Ánh trăng nào khắc sâu kỷ niệm ? Điều ấy được tưởng tượng ra thế nào nhỉ ? Anh sẽ nằm ủ ê ? Hay lê mình như dòng sông cô độc ? Khí trời anh hít thở làm bằng hơi tanh Ánh sáng anh nhìn làm bằng chất cứng Và hàng tỷ triệu năm dằng dặc Không có một đôi mắt lung linh Một lá cỏ xanh rờn + Giả sử ngọn núi cao kia không cao nữa Người ta xây nhà và rong chơi ? Giả sử đại dương kia hẹp lại Những chuyến tàu ngang dọc như thoi Giả sử lòng anh không còn khát vọng Những ngọn núi cao anh đã chiếm Những đại dương anh đã vượt qua Anh sẽ làm gì với tuổi trẻ Khi trái tim ngày xưa thầm thì đàn ca Anh sẽ làm gì với đôi mắt Đang mở to-dòng sông long lanh Anh sẽ làm gì với mái tóc Sáng như màu gỗ ? + Tất cả những điều giả sử ấy là thế nào nhỉ ? Là thơ chăng ? Hay những dòng vô nghĩa ? Là lửa chăng ? hay là cát ? Là biển chăng ? Hay một ao tù ? Huỳnh Minh Tâm GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam ĐT 0510 3865898 tamdailoc@gmail.com tamdailoc.vnweblogs.com

More...

khúc II trường ca

By Huynh Minh Tam

Huỳnh Minh Tâm GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam ĐT 0510 3865898 tamdailoc@gmail.com tamdailoc.vnweblogs.com TỰ DO VÀ THƠ (Trong Phần I : bài ca của biển ở trường ca 1) Có lúc tôi nghĩ : Tự do là cha thơ là mẹ Không có mẹ cha tôi không sống được bao giờ Tự do là cuộc sống của tôi là khát vọng của tôi là phần tôi định đoạt Thơ là cuộc sống của tôi là khát vọng của tôi là phần trời phú cho Tôi định đoạt sự tự do của tôi bằng đấu tranh và niềm tin tất thắng Trời phú cho tôi một bầu cảm xúc một bầu thơ một biển đam mê Cha bảo: Con hãy sống nghĩa là tự do đó là niềm hạnh phúc lớn nhất ! Mẹ bảo: con hãy sống nghĩa là thơ dâng cho mẹ cho người ! Lòng bảo: Mày phải sống cho sự tự do và thơ ca đó là niềm vinh quang ! Có lúc tôi đã hiểu như thế và sống như thế Có lúc tôi đã hiểu như thế và không sống như thế Vì điều kia không dễ Lúc chúng ta xông vào. + Có lúc tôi nghĩ: Tự do là trời thơ là đất Không có sự cao hơn không có sự thấp hơn Dẫu có sự bao la và trừu tượng Những khoảng xanh và sự bạc màu Tôi là cánh chim Bay trong trời và tìm đất đậu Hát cho trời và đất Cho niềm vui và nỗi cực nhọc Cho miếng cơm ngon và lát sắn dày Cho đời thường và cả ước mơ Có lúc tôi không hiểu như thế và sống như thế Có lúc tôi không hiểu như thế và không sống như thế Vì điều kia không dễ Lúc chúng ta yên bình + Có lúc tôi nghĩ: Tự do là tôi thơ là tình yêu của tôi Thiếu tôi-vô nghĩa Thiếu tình yêu tôi là bóng quỷ bóng ma Hai mặt của một cuộc đời không phủ định không nhường chỗ Hai cuộc sống của một trái im Có lúc tôi hiểu như thế và sống như thế Có lúc tôi hiểu như thế và mong sống như thế Tự do và thơ Tôi và em Một mà hai hai mà một Đi mãi trên đời không gấm vóc không trễ nải Không ồn ào không sợ hãi Là ngọn lửa dòng sông bình dị tự hôm nào. Huỳnh Minh Tâm GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam ĐT 0510 3865898 tamdailoc@gmail.com

More...

trường ca 1/25

By Huynh Minh Tam

Huỳnh Minh Tâm GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam ĐT 0510 3865898 tamdailoc@gmail.com tamdailoc.vnweblogs.com TỰ DO VÀ THƠ (Trong Phần I : bài ca của biển ở trường ca 1) Có lúc tôi nghĩ : Tự do là cha thơ là mẹ Không có mẹ cha tôi không sống được bao giờ Tự do là cuộc sống của tôi là khát vọng của tôi là phần tôi định đoạt Thơ là cuộc sống của tôi là khát vọng của tôi là phần trời phú cho Tôi định đoạt sự tự do của tôi bằng đấu tranh và niềm tin tất thắng Trời phú cho tôi một bầu cảm xúc một bầu thơ một biển đam mê Cha bảo: Con hãy sống nghĩa là tự do đó là niềm hạnh phúc lớn nhất ! Mẹ bảo: con hãy sống nghĩa là thơ dâng cho mẹ cho người ! Lòng bảo: Mày phải sống cho sự tự do và thơ ca đó là niềm vinh quang ! Có lúc tôi đã hiểu như thế và sống như thế Có lúc tôi đã hiểu như thế và không sống như thế Vì điều kia không dễ Lúc chúng ta xông vào. + Có lúc tôi nghĩ: Tự do là trời thơ là đất Không có sự cao hơn không có sự thấp hơn Dẫu có sự bao la và trừu tượng Những khoảng xanh và sự bạc màu Tôi là cánh chim Bay trong trời và tìm đất đậu Hát cho trời và đất Cho niềm vui và nỗi cực nhọc Cho miếng cơm ngon và lát sắn dày Cho đời thường và cả ước mơ Có lúc tôi không hiểu như thế và sống như thế Có lúc tôi không hiểu như thế và không sống như thế Vì điều kia không dễ Lúc chúng ta yên bình + Có lúc tôi nghĩ: Tự do là tôi thơ là tình yêu của tôi Thiếu tôi-vô nghĩa Thiếu tình yêu tôi là bóng quỷ bóng ma Hai mặt của một cuộc đời không phủ định không nhường chỗ Hai cuộc sống của một trái im Có lúc tôi hiểu như thế và sống như thế Có lúc tôi hiểu như thế và mong sống như thế Tự do và thơ Tôi và em Một mà hai hai mà một Đi mãi trên đời không gấm vóc không trễ nải Không ồn ào không sợ hãi Là ngọn lửa dòng sông bình dị tự hôm nào. Huỳnh Minh Tâm GV trường THPT Huỳnh Ngọc Huệ Đại Lộc Quảng Nam ĐT 0510 3865898 tamdailoc@gmail.com

More...

thơ lê đức thịnh

By Huynh Minh Tam

 

Về Thạnh Mỹ

11/01/2011@16h22 308 lượt xem
Chuyên mục:
Thơ Thơ bạn bè

show_postcontent( alt


Tặng miền đất tình nhân

Đến với em thuở ngu ngơ vào đời.
Yêu em mà chẳng bận tâm.
Tình ngày khó như hoa trong kẽ đá mùa mưa khan nắng rát.

Em dành cho tôi tình hồn nhiên
Hoang dại như cỏ lau ven sông Bung (1) bấu víu bến bờ ngày nước dữ.
Tôi cho em tình tả tơi
Bời bời như cánh hoa gạo bên góc sân vắng trường Z Nông (2) trưa im bóng .

Ngày xa nhau ngong ngóng góc trời phía tây.
Thấp thoáng áo em mờ ảo nơi hẻm núi mù xa
Đắp cả trời tìm hơi áo ấm.
Khói sương bạc đầu đèo mây.
Mịt mờ bóng em nơi khoảng trời trập trùng bất tận
Đi mãi mà chẳng cùng.

Con đường quanh co sỏi đá dốc dài lẩn khuất bóng ma;
Chuyến xe sớm cỡi lên gập ghềnh mang tôi đến vùng em.
Chuyến phà ngược mệt nhoài qua Thác Bà Hội Khách (*);
Con nước dữ dằn xoa thớ gỗ Đá Trắng (*) trải ven sông đón chân tôi về cùng em.

Tôi bên em ngây dại thẩn thờ như cậu bé lần đầu choáng ngợp trước làn da mịn màng nguyên sơ của nàng trinh nữ mà thành gã thi sĩ nửa mùa thất tình ngay lúc vừa yêu.
Tôi ngỡ ngàng đến chốn đào nguyên nghe hơi thở hổn hển của nàng sơn tiên bị đánh thức khát khao trần thế biết máu mình rần rật chảy qua tim đỏ ráng chiều sơn cước.

Thế giới em hoang sơ hoa cỏ.
Tâm hồn em hồn hậu như nhánh lan miền cao ngày thắp hoa tháng ba.
Thịt da em ngát thơm trần trụi.
Tình em mãnh liệt cuồng si như khe Điên mùa nước về tháng chín.

Em như sơn nữ mường Hoa (*)
Gùi lên nương mang về lan dại e ấp xà lùng (3) vương vấn cỏ thơm.
Em là cô giáo bản đơn côi vò võ nửa năm mới gặp người thương
Thẹn thùng ái ân trong đôi môi tím thâm ngây dại.

Ta yêu em điên cuồng mộng mị thoi thóp trong đau đói vật vờ.
Ta yêu em hoan lạc men rừng chén tavac (4) sầu cay chiều bến dốc.

Nhớ em qua sông Thanh thuyền cây nghiêng ngả
Ngỡ tình tròng trành theo cánh lá trôi đến miền thẳm xa.
Nhớ em bên làng Dung (*) ngọt lịm trái tà bon (5) chín tới
Ngọt ngào bờ môi mọng ngày em đớn mình hoan hỉ dâng tặng trinh nguyên.

Phố núi chiều buông mắt lệ đưa người xa miền biên giới.
Chút tình thôi khép vai gầy ôm ấp vơi đầy nhớ nhung.

Nước sông Bung vẫn chảy từ cội rễ rừng già lăn những hạt cát nhỏ về miền xa lắc.
Gió ngàn còn ve vuốt bãi bồi lau sậy chải rối cuộc vui buồn lau nhạt nhoà trên mắt tình nhân.

Về Làng Mực (*)
Nghe tiếng con cú lẻ loi trên cội mùn gọi tượng gỗ nhà mồ khóc thiên đường mục ruỗng.
Qua Đồng Râm (*)
Nghe con mang tác (6) trong hẻm rú vỡ đêm vọng bờ đá dựng xót mình lạc lối trần gian.

Sống trọn ngàn năm mà phù sinh nửa kiếp !
Vay tình phiêu du nửa kiếp thôi trả đến ngàn năm !

Trăng qua thung lũng tìm nụ hôn nhân tình
Vú hồng phập phồng rạng rỡ màn trăng.
Ai hát khúc Thuyền trăng (7)
Tô màu bàng bạc sương trăng tháng tám.

Đồi vắng đìu hiu lối cỏ con suối mùa nước cạn kín cánh hoa dại tơi bời.
Cung đàn mơ màng lạc phím nhặt sầu rơi rụng thinh không.

Ta là kẻ lạ nơi cõi mình.
Em là khách lạ trong cõi ta !

Quá khứ trôi như dòng nước qua kẽ ngón tay chỉ còn lại cảm giác mát lành giữa mênh mang hư ảo.
Hạnh phúc như ngọn gió rừng tràn qua hẻm núi tắm gội thân hao gầy em về vui cả đớn đau.

Chẳng dám hôn em
Sợ làm tan giọt lệ bờ mi long lanh muôn vì sao phố núi.
Chẳng dám cầm tay em
Sợ đánh thức cuộc tình vời vợi theo mây gió ngàn bay .

Nắng sớm về thơm tho sợi khói.
Lòng miên man ngày hạnh ngộ bình yên :
"Ừ thôi em về...
đôi bàn chân mỏi...
bây giờ em vui ...
một linh hồn rỗi...
tình yêu xứ này ..." (8) .

 

Lê Đức Thịnh
Một ngày đông năm 2009.

Lê Đức Thịnh - Đt : 0975247248
Đc : Trường THCS Nguyễn Trãi -Đại Lộc- QNam.
E.mail : leducthinhqn@gmail.com


-----------------

(1) Sông Bung : Con sông lớn khởi nguồn ở miền núi tỉnh Quảng Nam.
(2) Z Nông : tên trường - xã nay là thị trấn Thạnh Mỹ- thuộc huyện miền núi Nam Giang QN.
(3) Xà lùng : một loại trang phục của sơn nữ K tu .
(4) Tavac (tà vạc) : một loại nước uống có men lấy từ cây rừng uống thay bia rượu.
(5) Tà bon (lòn bon loòng boong trái nam trân) : trái rừng đặc sản miền núi Quảng Nam có nhiều ở huyện Nam Giang tỉnh Quảng Nam.
(6) Mang tác : con mang kêu đêm.
(7) Thuyền trăng : ca khúc của nhạc sĩ Phạm Duy.
(8) Ca khúc "Cuối cùng cho một cuộc tình" Trịnh Công Sơn - phổ thơ hoạ sĩ Trịnh Cung.
(*) Các địa danh.

0);


Tặng miền đất tình nhân

Đến với em thuở ngu ngơ vào đời.
Yêu em mà chẳng bận tâm.
Tình ngày khó như hoa trong kẽ đá mùa mưa khan nắng rát.

Em dành cho tôi tình hồn nhiên
Hoang dại như cỏ lau ven sông Bung (1) bấu víu bến bờ ngày nước dữ.
Tôi cho em tình tả tơi
Bời bời như cánh hoa gạo bên góc sân vắng trường Z Nông (2) trưa im bóng .

Ngày xa nhau ngong ngóng góc trời phía tây.
Thấp thoáng áo em mờ ảo nơi hẻm núi mù xa
Đắp cả trời tìm hơi áo ấm.
Khói sương bạc đầu đèo mây.
Mịt mờ bóng em nơi khoảng trời trập trùng bất tận
Đi mãi mà chẳng cùng.

Con đường quanh co sỏi đá dốc dài lẩn khuất bóng ma;
Chuyến xe sớm cỡi lên gập ghềnh mang tôi đến vùng em.
Chuyến phà ngược mệt nhoài qua Thác Bà Hội Khách (*);
Con nước dữ dằn xoa thớ gỗ Đá Trắng (*) trải ven sông đón chân tôi về cùng em.

Tôi bên em ngây dại thẩn thờ như cậu bé lần đầu choáng ngợp trước làn da mịn màng nguyên sơ của nàng trinh nữ mà thành gã thi sĩ nửa mùa thất tình ngay lúc vừa yêu.
Tôi ngỡ ngàng đến chốn đào nguyên nghe hơi thở hổn hển của nàng sơn tiên bị đánh thức khát khao trần thế biết máu mình rần rật chảy qua tim đỏ ráng chiều sơn cước.

Thế giới em hoang sơ hoa cỏ.
Tâm hồn em hồn hậu như nhánh lan miền cao ngày thắp hoa tháng ba.
Thịt da em ngát thơm trần trụi.
Tình em mãnh liệt cuồng si như khe Điên mùa nước về tháng chín.

Em như sơn nữ mường Hoa (*)
Gùi lên nương mang về lan dại e ấp xà lùng (3) vương vấn cỏ thơm.
Em là cô giáo bản đơn côi vò võ nửa năm mới gặp người thương
Thẹn thùng ái ân trong đôi môi tím thâm ngây dại.

Ta yêu em điên cuồng mộng mị thoi thóp trong đau đói vật vờ.
Ta yêu em hoan lạc men rừng chén tavac (4) sầu cay chiều bến dốc.

Nhớ em qua sông Thanh thuyền cây nghiêng ngả
Ngỡ tình tròng trành theo cánh lá trôi đến miền thẳm xa.
Nhớ em bên làng Dung (*) ngọt lịm trái tà bon (5) chín tới
Ngọt ngào bờ môi mọng ngày em đớn mình hoan hỉ dâng tặng trinh nguyên.

Phố núi chiều buông mắt lệ đưa người xa miền biên giới.
Chút tình thôi khép vai gầy ôm ấp vơi đầy nhớ nhung.

Nước sông Bung vẫn chảy từ cội rễ rừng già lăn những hạt cát nhỏ về miền xa lắc.
Gió ngàn còn ve vuốt bãi bồi lau sậy chải rối cuộc vui buồn lau nhạt nhoà trên mắt tình nhân.

Về Làng Mực (*)
Nghe tiếng con cú lẻ loi trên cội mùn gọi tượng gỗ nhà mồ khóc thiên đường mục ruỗng.
Qua Đồng Râm (*)
Nghe con mang tác (6) trong hẻm rú vỡ đêm vọng bờ đá dựng xót mình lạc lối trần gian.

Sống trọn ngàn năm mà phù sinh nửa kiếp !
Vay tình phiêu du nửa kiếp thôi trả đến ngàn năm !

Trăng qua thung lũng tìm nụ hôn nhân tình
Vú hồng phập phồng rạng rỡ màn trăng.
Ai hát khúc Thuyền trăng (7)
Tô màu bàng bạc sương trăng tháng tám.

Đồi vắng đìu hiu lối cỏ con suối mùa nước cạn kín cánh hoa dại tơi bời.
Cung đàn mơ màng lạc phím nhặt sầu rơi rụng thinh không.

Ta là kẻ lạ nơi cõi mình.
Em là khách lạ trong cõi ta !

Quá khứ trôi như dòng nước qua kẽ ngón tay chỉ còn lại cảm giác mát lành giữa mênh mang hư ảo.
Hạnh phúc như ngọn gió rừng tràn qua hẻm núi tắm gội thân hao gầy em về vui cả đớn đau.

Chẳng dám hôn em
Sợ làm tan giọt lệ bờ mi long lanh muôn vì sao phố núi.
Chẳng dám cầm tay em
Sợ đánh thức cuộc tình vời vợi theo mây gió ngàn bay .

Nắng sớm về thơm tho sợi khói.
Lòng miên man ngày hạnh ngộ bình yên :
"Ừ thôi em về...
đôi bàn chân mỏi...
bây giờ em vui ...
một linh hồn rỗi...
tình yêu xứ này ..." (8) .

Lê Đức Thịnh
Một ngày đông năm 2009.

Lê Đức Thịnh - Đt : 0975247248
Đc : Trường THCS Nguyễn Trãi -Đại Lộc- QNam.
E.mail :
leducthinhqn@gmail.com

More...